27.7.07

Biết Ơn Chị Võ Thị Sáu

http://bariavungtau.com/files/Vothisau.jpg

Võ Thị Sáu

Võ Thị Sáu tên thật là Nguyễn thị Sáu (1935 – 13 tháng 3 năm 1952) là một nữ chiến sĩ được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Cô quê ở vùng Đất Đỏ, Long Điền, tỉnh Bà Rịa (nay thuộc xã Phước Long Thọ, huyện Đất Đỏ , tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu). Năm 1949, cô tham gia đội Công an xung phong Đất Đỏ làm liên lạc, tiếp tế. Năm 1950, khi mới 15 tuổi cô bị chính quyền Pháp bắt và bị tòa án binh Pháp kết án tử hình vào tháng 4 năm 1951 vì đã ném lựu đạn tại chợ Đất Đỏ, giết chết một Cai Tổng Tòng quan ba và gây thương tích cho 20 tên lính Pháp. Tuy nhiên, các luật sư biện hộ cho cô đã phản đối án tuyên này với lý do cô chưa đủ 18 tuổi. Trước khi bị đưa ra hành án, cô bị đày qua các nhà tù Chí Hòa, Bà Rịa và Côn Đảo. Cô bị xử bắn năm 1952 tại Côn Đảo khi chưa đủ 18 tuổi.
Mộ của Võ Thị Sáu hiện còn ở nghĩa trang liệt sĩ Hàng Dương, Côn Đảo. Ngày 2 tháng 9 năm 1994, cô được Nhà nước Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Mùa hoa lê - ki - ma nở
Ở quê ta miền đất đỏ
Thôn xóm vẫn nhắc tên người anh hùng
Đã chết cho mùa .. hoa lê - ki - ma nở
Đời sau vẫn còn nhắc nhở
Sông núi đất nước ơn người anh hùng
Đã chết cho đời sau
Người thiếu nữ ấy như mùa xuân
Chị đã dâng trọn cuộc đời
Để chiến đấu với bao niềm tin
Dù chết vẫn không lùi bước
Chị Sáu đã hy sinh rồi
Giọng hát vẫn như còn vang dội
Vào trái tim những người đang sống
Giục đi lên không bao giờ lui
Kìa hoa lê - ki - ma nở
Đẹp thêm quê miền đất đỏ
Nơi đó sáng mãi tên người anh hùng
Bình minh đang rực sáng cho hoa kia nở
Mùa xuân lan tràn xứ sở
Tôi đến hát trước nấm mồ chôn sâu
Người nữ anh hùng


Ngôi mộ có 4 tấm bia của anh hùng liệt sĩ Võ ThịSáu
ở nghĩa trang Hàng Dương - Côn Đảo.

Theo lời chị Nguyễn Thanh Vân, cán bộ Khu Di tích lịch sử - cách mạng Côn Đảo: Tấm bia thứ nhất do các tù chính trị tại Côn Đảo lập để tỏ lòng tôn kính; Tấm bia thứ hai do vợ chồng Thiếu tá tỉnh trưởng Tăng Tư làm chúa đảo vào năm 1964 dựng thể hiện sự kính phục chị Sáu linh thiêng; Tấm bia thứ ba được lập trong công trình trùng tu tôn tạo nghĩa trang Hàng Dương; Tấm bia thứ tư nằm phía sau ngôi mộ có hình dáng như một chiếc gương là một phần trong tổng thể tôn tạo ngôi mộ, sắp tới sẽ tiến hành đắp phù điêu có gắn hình chân dung chị Sáu.
Chị Võ Thị Sáu sinh năm 1933 ở xã Phước Thọ, quận Đất Đỏ, nay là huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Được sinh ra ở vùng quê giàu truyền thống cách mạng, năm 1947 khi mới 14 tuổi, chị gia nhập Đội Công an xung phong quận Đất Đỏ với mong muốn trừng trị bọn ác ôn. Từ đó, chị đã trở thành người chiến sĩ trinh sát làm nhiệm vụ phá tề, trừ gian với nhiều chiến công nổi tiếng.

Tháng 2/1950, chị dẫn đầu một tổ, dùng lựu đạn tập kích diệt hai tên ác ôn Cả Suốt, Cả Đay. Không may chị bị sa vào tay địch. Chúng dùng mọi cực hình tra tấn, nhưng không khai thác được gì, liền đưa chị về giam ở khám Chí Hòa, Sài Gòn để tiếp tục khai thác và sau đó mở phiên tòa, tuyên án tử hình chị.

Tại phiên tòa đại hình, tuy mới 17 tuổi, nhưng chị Võ Thị Sáu đã hiên ngang tỏ rõ khí phách anh hùng của một thiếu nữ Việt Nam làm cho lũ quan tòa và đồng bọn đều phải nể sợ. Chị sang sảng khẳng định: “Yêu nước chống bọn thực dân xâm lược không phải là tội”. Và khi tên quan tòa rung chuông ngắt lời chị, tuyên án: “Tử hình, tịch thu toàn bộ tài sản”, chị đã thét vào mặt y: “Tao còn mấy thùng rác ở khám Chí Hòa, tụi bây vô mà tịch thu!”. Tiếp đó là tiếng hô: “Đả đả thực dân Pháp!”. “Kháng chiến nhất định thắng lợi!”.

Khu công viên tượng đài nữ anh hùng Võ Thị Sáu. Tượng đúc bằng đồng, cao 7m do tác giả Thanh Thanh sáng tác, diễn tả tư thế chị Sáu ung dung ra pháp trường với tà áo tung bay trong gió

Thực dân Pháp muốn giết chết ngay người con gái đáng sợ này, nhưng không dám thực hiện bản án tử hình đối với người chưa đến tuổi thành niên. Chúng phải tiếp tục giam chị ở khám Chí Hòa và rồi đưa ra Côn Đảo. Ngày 23/1/1952, chúng thi hành bản án, bắn chết chị ở ngoài hòn đảo xa đất liền này sau hai ngày chúng đưa chị ra đây. Biết sắp bị hành hình, suốt đêm 22, chị đã gửi lòng mình với đất nước và nhân dân bằng những bài ca cách mạng: "Lên đàng", "Tiến quân ca", "Cùng nhau đi hùng binh"...

4 giờ sáng ngày 23/1/1952, sau khi tên chánh án làm thủ tục thi hành án, viên cố đạo liền lên tiếng: “Bây giờ cha rửa tội cho con”. Chị gạt phắt lời viên cha cố: “Tôi không có tội. Chỉ có kẻ sắp hành hình tôi đây mới là có tội...”. Ông ta kiên nhẫn thuyết phục: “Trước khi chết, con có điều gì ân hận không?”. Chị nhìn thẳng vào mặt ông ta và mặt tên chánh án, trả lời: “Tôi chỉ ân hận là chưa tiêu diệt hết bọn thực dân cướp nước và lũ tay sai bán nước”.

Đã được mật báo về hành động anh hùng của Võ Thị Sáu và cả ngày giờ giặc Pháp hành hình chị - một nữ tù đầu tiên và duy nhất ở Côn Đảo từ trước tới thời điểm ấy, hàng ngàn trái tim những người tù chính trị từ banh I đến banh II đã thổn thức suốt đêm. Khi lắng nghe thấy bước chân bọn đao phủ giải chị Sáu đến nơi hành hình, tất cả anh em cùng đứng dậy hát vang bài Chiến sĩ ca - bài hát thời ấy dành để bày tỏ lòng cảm phục, tiếc thương và tiễn đưa những người đồng đội ra pháp trường.

Ra đến pháp trường, tên chánh án hỏi chị: “Còn yêu cầu gì trước khi chết?”. Chị nói: “Không cần bịt mắt tôi. Hãy để cho đôi mắt tôi được nhìn đất nước thân yêu đến giây phút cuối cùng và tôi có đủ can đảm để nhìn thẳng vào họng súng của các người!”. Nói xong, chị bắt đầu cất cao tiếng hát. Chị hát bài Tiến quân ca. Giọng hát của người con gái Đất Đỏ lúc này thiết tha bay bổng, say sưa át cả tiếng tên chánh án đọc lệnh thi hành án tử hình và tiếng hô ra lệnh cho toán lính lên đạn của tên đội trưởng lê dương. Khi tên chỉ huy ra lệnh cho bọn lính chuẩn bị nổ súng thì chị lập tức ngưng hát và hét lên: “Đả đảo thực dân Pháp!”. “Việt Nam độc lập muôn năm!”. “Hồ Chủ tịch muôn năm!”.

Chị Sáu hi sinh nhưng trong trái tim người dân Côn Đảo, chị luôn tồn tại như một vị thánh. Ngày giỗ của chị dường như đã trở thành ngày lễ trọng đại đối với người dân nơi đây. Năm 2004, ngày giỗ của chị rơi vào mồng 2 Tết. Tưởng chừng như sẽ vắng vẻ, nhưng ngược lại, mọi người lại tụ tập về đây nhiều hơn. "Mùa hoa lêkima nở, ở quê ta miền đất đỏ. Sông núi vẫn nhắc tên người anh hùng...".

(Theo Báo Công An Nhân Dân)

Lời Anh Vọng Mãi Ngàn Năm

Hãy nhớ lấy lời tôi

Nguyễn Văn Trỗi- khoảnh khắc trước giờ-hành-quyết: 9 giờ 45 phút ngày 15 tháng 10 năm 1964 tại sân sau nhà lao Chí Hòa



Chị Quyên đọc lại bài thơ chị thêu trên khăn tay tặng anh Trỗi, được lưu giữ ở Bảo tàng Cách mạng VN



---

Lý Tự Trọng

Lý Tự Trọng là con một gia đình cách mạng quê ở huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Anh sinh ở Thái Lan. Chín, mười tuổi anh được đoàn thể đưa sang Trung Quốc học nǎm 1928, anh ở cơ quan của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội. Nǎm 1929, Lý Tự Trọng về nước, với nhiệm vụ thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Trọng làm liên lạc cho Xứ ủy Nam Kỳ và Trung ương Đảng lúc đó đóng ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Anh còn là người liên lạc với các đồng chí cộng sản ở nước ngoài qua các chuyến tàu đến cảng Sài Gòn. Ngày 9-2-1931, trong buổi kỷ niệm một nǎm cuộc bạo động Yên Bái, tên thanh tra mật thám Lơ Gơrǎng chực nhảy tới bắt người đang giương cờ và diễn thuyết Lý Tự Trọng đã nhảy ra bắn chết Lơ Gơrǎng, Lý Tự Trọng bị địch bắt, bị tra tấn hết sức dã man.

Anh bị thực dân Pháp kết án tử hình.


Nguyễn Hoàng Tôn

Nguyễn Hoàng Tôn còn có tên là Phạm Hữu Mẫn và thường được các đồng chí gọi là Mẫn con.

Anh sinh ra ở làng Trích Sài (Bưởi). Cha mẹ mất sớm, lớn lên tham gia cách mạng từnǎm 1929. Được giác ngộ và kết nạp vào Đảng, Nguyễn Hoàng Tôn đã bước vào "vô sản hóa" tại mỏ than Quảng Ninh, rồi trở lại hoạt động ở Hà Nội.

Do có sự phản bội, ngày 20-4-1931, cùng một lúc nhiều cơ sở của ta bị vây ráp. Nguyễn Hoàng Tôn và các đồng chí khác đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng rồi bị bắt.

Ở trong tù, Nguyễn Hoàng Tôn nêu cao khí phách anh hùng chịu mỏi tra tân, dụ dỗ không chịu xin ân xá.

Tại phiên tòa Hội đồng đề hình ngày 17-10-1931 đã xét xử khép anh vào án tử hình. Lúc đó anh chưa đầy 20 tuổi.


Cao Xuân Quế

Cao Xuân Quế - sinh nǎm 1915 tại thôn Dương Xuân, xã Lĩnh Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, được kết nạp vào Đoàn thanh niên Cộng sản tháng 4-1930, hoạt động tự vệ xã. Tham gia các cuộc biểu tình, các công tác vây nhà cường hào, tịch thu thóc lúa của địa chủ chia cho dân nghèo. Khi địch khủng bố gắt gao, rút lên chiến khu làm công tác in các truyền đơn , tài liệu của Huyện ủy. Ngày 21-10-1931, do có kẻ phản bội, cơ quan lộ, bị địch bắt. Bị tra tấn dã man vẫn giữ khí tiết, hy sinh ngày 20-10 âm lịch (cuối tháng 11-1931) .


Hồng Quang

Hồng Quang - tên thật là Nguyễn Vǎn Trạch, xuất thân từ một gia đình công chức nghèo ở Thái Bình.

Sau khi đỗ tú tài, anh thi vào trường đại học Luật khoa Hà Nội. Vì có tư tưởng chống đối hệ giáo dục nhồi sọ của thực dân, công khai bày tỏ sự bất đồng với các giáo sư phản động, nên anh bị đuổi học "vì lý do chính trị".

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, anh là một trong những người sáng lập ra một tổ chức của trí thức trẻ lấy tên là "Thanh niên xã hội".

Hồng Quang làm liên lạc cho Xứ ủy Bắc Kỳ. Anh bị giặc bắt hai lần.

Chúng tìm mọi cách mua chuộc, dọa dẫm, tra tấn dã man, nhưng không moi được ở anh một lời nào. Anh đã hy sinh trong nhà lao vì bị đánh đập tàn nhẫn đến mù cả hai mắt, nhưng vẫn giữ tinh thần bất khuất của một người cộng sản trẻ tuổi giác ngộ cách mạng.


Phan Đình Giót

Phan Đình Giót - sinh nǎm 1920 ở làng Tam Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Nhà nghèo, cha mất sớm, hai mẹ con đùm bọc nuôi nhau trong cảnh bóc lột áp bức của địa chủ. Nǎm 1950. Phan Đình Giót xung phong đi bộ đội. Anh tham gia nhiều chiến dịch lớn: Trung Du, Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên Phủ - hai lần bị thương nặng vắn tiếp tục chiến
đấu và đã hy sinh oanh liệt trong trận đánh mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ. Đó là trận tiêu diệt cứ điểm Him Lam - tư thế hy sinh của anh - lấy thân mình bịt lỗ châu mai giặc - mãi mãi là hình tượng sáng ngời khí thế tiến công của người chiến sĩ cách mạng: Chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, dành cho Tổ quốc tất cả tuổi trẻ và cuộc sống của mình...


Tô Vĩnh Diện

Tô Vĩnh Diện - sinh nǎm 1924, quê ở xã Nông Trường huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Nhà nghèo, từ 8 đến 20 tuổi phải đi ở cho địa chủ, chịu đựng bao cảnh áp bức bất công. Tháng 7-1949, xung phong vào bộ đội, hoàn thành x.uất sắc mọi nhiệm vụ. Tháng 5-1953, quân đội ta thành lập các đơn vị pháo cao xạ để chuẩn bị đánh lớn, Tô Vĩnh Diện được điều làm tiểu đội trưởng một đơn vị pháo. Trên đường kéo pháo ở Điện Biên, pháo lao nhanh xuống dốc, Tô Vĩnh Diện xông lên trước, lấy thân chèn bánh pháo, cứu pháo an toàn, hy sinh một cách anh dũng. Anh đã được Quốc hội truy tặng Huân chương Quân công hạng Nhất và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Cù Chính Lan

Cù Chính Lan - sinh nǎm 1929, tại làng Quỳnh Đôi Quỳnh Lưu, Nghệ An, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong trận tấn công cừ điểm Giang Mở, cách thị xã Hòa Bình 8 ẩm về phía Nam, ngày 13-12-1951, Anh - lúc này là tiểu đội trưởng, một mình đuổi xe tǎng giặc, dũng cảm nhảy lên thành xe, ném lựu đạn vào buồng lái, tiêu diệt địch, tạo điều kiện cho đơn vị hoàn thành nhiệm vụ. Chiến công của anh có ý nghĩa khích lệ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của bộ đội ta. Trên toàn mặt trận (chiến dịch Hòa Bình) đã dấy lên phong trào thi đua "noi gương Cù Chính Lan"


Trần Vǎn Ơn

Trần Vǎn Ơn, sinh tại xóm Bàn Cờ (nay thuộc Q3, thành phố Hồ Chí Minh) đã dẫn đầu đoàn học sinh trong cuộc đấu tranh chống bọn Pháp và ngụy đàn áp học sinh vào ngày 9-1-1950.

Anh đã hy sinh vì đạn giặc lúc 15 giờ 25 phút ngày 9-1-1950.

Ngày 12-1-1950, 50 vạn nhân dân đã xuống đường đưa đám anh. Và ngày 9-1 cũng trở thành ngày kỷ niệm của học sinh sinh viên Cách mạng.


Nguyễn Viết Xuân

Nguyễn Viết Xuân - sinh ở xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Mười tám tuổi, anh xung phong vào bộ đội ở trung đoàn pháo cao xạ. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đơn vị tham gia chiến đấu, bắn rơi nhiều máy bay địch.

Mười nǎm sau, đơn vị anh đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ bầu trời phía Tây Quảng Bình. Buổi sáng ngày 18 tháng 11 nǎm 1964, đơn vị anh đã đánh trả nhiều đợi tiến công đến cuồng của hàng đàn lũ máy bay Mỹ. Nguyễn Viết Xuân bị thương nát đùi bên phải, anh yêu cầu cắt bỏ chân và tiếp tục đưa vào bờ công sự, chỉ huy chiến đấu. Lời hô của anh có tác động sâu sắc đến tình cảm và trở thành biểu tượng của khí phách tuổi trẻ Việt Nam chống cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân Mỹ đối với miền Bắc xã hội chủ nghĩa. "Nhằm thẳng quân thù, bắn!" - Lời hô đó đã trở thành bất tử - và người chính trị viên dũng cảm Nguyễn Viết Xuân vẫn còn sống mãi trong trái tim biết bao con người Việt Narn...


Lê Thị Hồng Gấm

Lê Thị Hồng Gấm, sinh nǎm 1951, trong một gia đình nông dân lao động ở xã Long Hưng, huyện Châu Thành, Mỹ Tho (nay thuộc Tiền Giang). Tham gia cách mạng từ nhỏ, việc gì được giao cũng nhận và hǎng hái làm tròn. Đói với đồng đội thì ơn nghĩa chí tình như đứa em gái.

Chị hi sinh trên đường giao liên vào xuân 1970, sau khi một mình tiêu diệt nhiều tên địch, bắn rơi máy bay lên thẳng của địch. Bi thương nặng biết không qua khỏi, chị đã bắn đến viên đạn cuối cùng, gắng sức đập gẫy nát khẩu súng không để lọt vào tay địch. Lúc đó Hồng Gấm mới 19 tuổi.


Nguyễn Thái Bình

The image “http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/d/d4/Nguyenthaibinh.jpg” cannot be displayed, because it contains errors.Nguyễn Thái Bình - Sinh nǎm 1948 ở làng Trường Bình, Cần Giuộc, tỉnh Long An. Còn có bút danh là Việt Thái Bình, hoạt động trong phong trào học sinh yêu nước Sài Gòn. Nǎm 1968, được học bổng của ALD sang học đại học Oa-sinh-tơn. Đã hoạt động tích cực trong phòng trào phản chiến, phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam, trên đất Mỹ. Nǎm 1972, tốt nghiệp đại học loại ưu. Vǎn bằng danh dự. Trước khi về nước, gửi thư ngỏ cho tổng thống Mỹ và gửi thư ngỏ cho nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới để tố cáo Mỹ xâm lược Việt Nam. Bị sát hại ngày 2-7-1972 tại sân bay Tân Sơn Nhất.


Đinh Trọng Lịch

Đinh Trọng Lịch - sinh ra và lớn lên ở Đô Lương, huyện Đông Hưng (Thái Bình). Học hết lớp 10 phổ thông, sau đó anh nhập ngũ, ngày 28 tháng 4 nǎm 1978, được điều về đại đội 2, tiểu đoàn 41, quân khu Ba - một đơn vị đặc công có nhiều thành tích xuất sắc trong chiến đấu. Tháng 10 nǎm 1979 đơn vị Lịch được điều về Cảng Hải Phòng. ở đây đang diễn ra một cuộc chiến tranh âm thầm nhưng quyết liệt để bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa.

Đinh Trọng Lịch luôn bộc lộ một nhân cách trong sáng, một ý chí sắt đá.

Anh được vinh dự kết nạp Đảng trên trận tuyến này, và 7 ngày sau là ngày 17-4-1980. Người chiến sĩ vừa mới được bảy ngày tuổi Đảng đã kiên cường bám sát kẻ tội phạm đến khi ngã xuống.

ImageLê Anh Xuân (1940-1968)--
K8 đời đời nhớ ơn các Anh Hùng, Liệt Sĩ, Thương Binh đã xả thân vì Tổ Quốc !

No comments: