22.7.07

Những Ánh Sao Đêm

Nhắc đến Quân đội nhân dân Việt Nam mà quên Bộ trưởng Quốc phòng Tạ Quang Bửu là thiếu sót lớn. Ông là 1 người có Trí Tuệ Uyên Bác, 1 người Giản Dị đến kinh ngạc. Khi tôi đi chào tạm biệt 1loạt các tướng lĩnh, gia đình tôi chuyển hẳn vào SG, 2 ngừoi luôn gây Ấn Tượng mạnh nhất lại là 2 bác láng giềng cũ : bác Văn(đại tướng Võ Nguyên Giáp) và bác Tạ Quang Bửu- người mà nhiều cán bộ cao cấp cũng phải thán phục về Kiến Thức Sâu Rộng. Ông không Chững Chạc như 1 quân nhân, không Lịch Lãm như 1 Chính Khách, không Thâm Trầm như 1 nhà Hiền Triết...ông là Nhà -Khoa-Học nên ông rất-khác-biệt . Ông còn cẩn thận viết 1 thư tay cho Bộ trưởng Nguyễn Đình Tứ để chăm sóc tôi.
Ông là người tham gia vào các Sự Kiện quan trọng của nhà nước Việt Nam non trẻ. Các tác fẩm ông viết cách đây nhiều chục năm chta đọc chưa chắc đã hiểu- ông lẻ loi như 1 ngôi sao trên bầu trời...trình độ Dân Trí chung hồi đó quá thấp....
  • "Thống kê thường thức"
  • "Vật lý cương yếu"
  • "Nguyên tử – hạt nhân – vũ trụ tuyến"
  • "Sống"
  • "Đại số các toán tử" (1961)
  • "Các mức điều chỉnh trong lý thuyết hệ thống" (1981)
  • "Viết thêm về các mức điều chỉnh trong lý thuyết hệ thống" (1985)
  • "Hạt cơ bản" (1987)
  • Giáo sư Tạ Quang Bửu (1910–1986)

    Tạ Quang Bửu (23 tháng 7 năm 1910 – 21 tháng 8 năm 1986) là một giáo sư, nhà toán học; ông cũng từng là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông cũng được bầu làm đại biểu Quốc hội liên tục từ khoá I đến khóa VI (1946–1981).
    Ông là một nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực, không chỉ trong khoa học tự nhiên mà cả trong các khoa học xã hội như lịch sử, cổ học. Về cổ học, ông đọc được Luận ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử, Đạo đức kinh, Nam Hoa kinh... trong nguyên bản Hán ngữ. Về ngôn ngữ, ông thành thạo tiếng Anh, tiếng Pháp, sử dụng được tiếng Đức, đọc hiểu tiếng Nga, tiếng Hán, tiếng Hi Lạp cổ, tiếng Latinh. Khi còn đi học, ông chỉ cốt sao thu nhận được nhiều kiến thức nhất chứ không quan tâm đến việc thi lấy bằng. Bên cạnh việc nghe giảng tại giảng đường đại học, ông dành phần lớn thời gian tự học tự cập nhật kiến thức. Khi làm bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, ông đã góp phần to lớn vào việc xây dựng nền đại học trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, vào sự nghiệp đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật ở miền Bắc Việt Nam trong thời kỳ này.
    Ông là người tham gia sáng lập Hội Vật lý Việt Nam (năm 1966).
    Ông đã được Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam tặng thưởng: Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba.
    Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 1) về khoa học công nghệ với tập hợp các công trình "Giới thiệu khoa học kĩ thuật hiện đại (sau 1945), chỉ đạo các nhiệm vụ quan trọng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và những quan điểm xây dựng ngành Đại học và Trung học chuyên nghiệp nước nhà". Các công trình của ông được đánh giá là đã định hướng phát triển một số ngành khoa học cơ bản; chỉ đạo kỹ thuật việc rà phá bom mìn phong toả Vịnh Bắc Bộ, Hải Phòng và chỉ đạo những nhiệm vụ kỹ thuật quan trọng khác trong kháng chiến chống Mỹ.
    Tạ Quang Bửu được sinh ra trong một gia đình nhà giáo tại thôn Hoành Sơn, xã Nam Hoành, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
    Năm 1922, Tạ Quang Bửu thi vào trường Quốc học Huế và đỗ thứ 11. Sau đó ông ra Hà Nội học trường Bưởi. Năm 1929, sau khi đỗ đầu tú tài Việt và đỗ đầu tú tài Tây ban Toán, ông nhận được học bổng của Hội Như Tây Du học của Nguyễn Hữu Bài và sang Pháp học.
    Tại Pháp, năm 1929 ông đăng ký học lớp toán đặc biệt của trường Louis le Grand về toán học và vật lý lý thuyết, đăng ký học cử nhân toán ở Viện Henri Poincaré. Ở đây có hai giảng đường lớn: Hermite dành cho cử nhân và Darboux dành cho những người học trên đại học. Ông đã đến nghe giảng ở Hermite và tham dự các buổi xê-mi-na ở Darboux. Tại đây, ông đã tiếp xúc với nhiều nhà toán học trẻ của nước Pháp, bí mật tham gia nhóm Nicolas Bourbaki. Mục đích của nhóm Bourbaki là tổng kết toàn bộ thành tựu toán học của loài người, mọi thành viên khi in các công trình toán học dù dưới dạng báo hay sách đều kí một bút danh là N. Bourbaki. Nhóm đã công bố hơn 40 công trình đồ sộ, được đánh giá cao. Năm 1961, ông cho ra đời tác phẩm về "Cấu trúc của Bourbaki".
    Ông thi đỗ vào trường Centrale Paris năm 1930, theo học chương trình cử nhân khoa học ở Đại học Sorbonne, học toán ở các Đại học Paris, Đại học Bordeaux (Pháp) từ 1930 đến 1934 và được trường Bordeaux trao đổi sang Đại học Oxford (Anh) trong một thời gian ngắn. Tại đây ông học thêm vật lý lượng tử.
    Trở về nước năm 1934, ông không ra làm quan mà đi dạy toán và tiếng Anh tại trường tư, ban đầu là trường Phú Xuân, sau là trường dòng Providence (Thiên Hựu) ở Huế. Ngoài tiếng Anh và toán, lí, hóa ông còn dạy các môn khoa học tự nhiên khác theo yêu cầu của nhà trường. Các môn này (động vật, thực vật, khoáng vật) ông tự nghiên cứu trong sách chuyên ngành cao hơn nhiều so với chương trình trung học rồi lên lớp với những mẫu hiện vật tự sưu tầm. Với thể thao, ông cũng tỏ ra xuất sắc ở một số môn và truyền đạt kinh nghiệm luyện tập cho các học sinh như: đánh bóng bàn theo kiểu Barma (đương kim vô địch thế giới về bóng bàn, người Hunggary), tập điền kinh theo phương pháp khoa học nhất, bơi sải (crawl)...
    Từ 1942 đến 1945, ông đi làm công cho hãng Điện-Nước SIPEA, được cử phụ trách nghiên cứu. Ông đã thiết kế nhiều bộ phận cho các nhà máy điện, tái sinh dầu nhờn cho Qui Nhơn. Ông đã khước từ Huân chương Bắc đẩu do Pháp trao vì thiết kế đường dây điện cao thế cho nhà máy vôi Long Thọ. Ngoài ra ông vẫn tranh thủ học thêm và nghiên cứu cơ học lượng tử và phương trình vi phân.
    Ông là một trong những người tiên phong của Việt Nam dự trại Tráng sĩ của tổ chức Hướng đạo Việt Nam. Thi đỗ ông được cấp bằng trại trưởng và là đại diện huấn luyện cho toàn Đông Dương. Ông được bầu làm Huynh trưởng Hướng đạo sinh Trung Kỳ.
    Tháng 8/1945, ông ra Hà Nội tham gia cách mạng. Từ tháng 9/1945 đến 1/1946, ông đã đảm nhận chức vụ Tham nghị trưởng Bộ Ngoại giao trong Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rồi Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
    Năm 1946 ông tham gia đoàn đại biểu chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự Hội nghị Đà Lạt, rồi Hội nghị Fontainebleau (Pháp) đàm phán với Pháp và nhân đó sang Zurich dự lễ kỷ niệm 200 năm thành lập Hội các nhà khoa học tự nhiên Thụy Sĩ vào tháng 7 năm đó.
    Tháng 7 năm 1947, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 8 năm 1947, ông làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, sau đó một năm trở lại cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu đã chỉ đạo và biên soạn cuốn sách "Bắn máy bay bằng súng trường tập trung" phổ biến rộng rãi khắp nơi và sau đó, khiến máy bay Pháp phải dè chừng trên vùng trời Việt Nam. Kinh nghiệm này cũng được áp dụng cho dân quân du kích Việt Nam dùng súng trường bộ binh bắn rơi máy bay phản lực Mỹ trong Chiến tranh chống Mỹ.
    Tháng 8 năm 1948 ông là ủy viên Hội đồng Quốc phòng Tối cao vừa được thành lập, sau đó còn làm Chánh văn phòng Quân ủy Trung ương.
    Tuy kiêm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng khác nhau, ông vẫn dành thời gian truyền thụ kiến thức của mình cho các thế hệ học trò. Ngay trong những ngày Cách mạng mới thành công, ông vừa tham gia các công việc của chính phủ vừa giảng dạy môn vật lý tại Đại học Hà Nội.

    Năm 1954, ông tham gia đoàn đại biểu chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự Hội nghị Geneva về Việt Nam trên cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và là người đại diện cho Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam kí văn bản Hiệp nghị đình chỉ chiến sự tại Việt Nam và Lào, thường được biết đến dưới cái tên Hiệp định Geneva về Việt Nam.
    Ngay sau khi miền Bắc được giải phóng, ông được cử làm Hiệu trưởng Đại học Bách khoa Hà Nội (1956-1961) đồng thời là Phó Chủ nhiệm kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Khoa học Nhà nước. Là lãnh đạo Uỷ ban Khoa học Nhà nước, ông trực tiếp làm trưởng ban Sinh vật - Địa học. Các bài giảng của ông về sinh học hiện đại có các giáo sư đầu ngành đến dự.
    Ông là Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp từ 1965 đến 1976. Giáo sư Tạ Quang Bửu đã đề xuất cải tiến nội dung giảng dạy những điều "cơ bản nhất, hiện đại nhất và sát hợp với điều kiện Việt Nam nhất". Theo sự chỉ đạo của Giáo sư, hệ thống các ban thư kí các bộ môn và các ngành đào tạo được thành lập để cải tiến chương trình đào tạo đồng thời các cán bộ có trình độ cao và kinh nghiệm giảng dạy cũng được tập hợp để biên soạn các giáo trình... Những năm đầu của thập niên 1970, ông đã tổ chức một loạt các cuộc hội thảo về phương pháp giảng dạy đại học. Chủ trương mở rộng quy mô đào tạo bằng việc lập nhiều trường chuyên ngành đã được phối hợp chặt chẽ với chính sách tuyển chọn mỗi năm hàng trăm sinh viên, cán bộ ưu tú để gửi đi đào tạo tại các nước xã hội chủ nghĩa.
    Thời kỳ này, giáo sư Tạ Quang Bửu vẫn tham gia giải quyết những vấn đề gay cấn nhất trong khoa học kỹ thuật quân sự. Mùa hè năm 1972, Tổng thống Mỹ Richard Nixon ra lệnh thả thuỷ lôi trên sông biển và phong toả cảng Hải Phòng. Ông đã trực tiếp chỉ đạo một tổ nghiên cứu thiết kế, chế tạo khí tài phá thuỷ lôi (mật danh GK1) để chống lại thủy lôi chiến lược MK 52 của Mỹ, khí tài phá bom từ trường (mật danh GK2) do Tiến sĩ Vũ Đình Cự làm tổ trưởng.
    Đêm 14 tháng 8 năm 1986, ông đột ngột ngưng làm việc do rối loạn tuần hoàn não và một tuần sau, ông qua đời.

GS Tạ Quang Bửu - Tấm gương của một người trí thức chân chính
GS Bửu có sự uyên bác rất kỳ lạ. Tôi chỉ nói một khía cạnh nhỏ, đó là lĩnh vực sinh học- một lĩnh vực khác hẳn với chuyên ngành Toán học, chuyên ngành mà ông đã lấy bằng Tú tài Toán từ năm 1929, và sau đó là những năm được đào tạo chính quy ở các Đại học Paris, Bordeaux (Pháp) và Oxford (Anh)…

Trong kháng chiến chống Pháp, khi bố tôi làm Giám đốc Giáo dục Liên khu X, có lần Cụ đã mang về nhà cuốn sách “Sống” và cuốn “Vui sống” do GS Tạ Quang Bửu viết, được in trên giấy dó. Tôi còn nhỏ quá nên đọc không hiểu. Sau này học đại học chuyên ngành sinh học tôi mới có điều kiện đọc lại (nay đã được in lại trong sách “Tạ Quang Bửu” (NXB Giáo dục, 2005, tr.161-195).

Phải nói là kỳ lạ vì GS Bửu viết ra những điều rất uyên bác ấy vào năm 1948, nghĩa là năm năm trước khi J.D.Watson và F.H.C.Crick khám phá ra cấu trúc ADN, mở màn cho thời đại Sinh học phân tử. Thời ấy mà GS Bửu đã viết được: Ngoài chromosome (nay gọi là nhiễm sắc thể- NLD) thì tế bào chỉ chứa những hóa chất không có gì đặc sắc…Nhưng số đặc tính trong một con người lớn hơn số chromosome nhiều, nên các đặc tính ấy chỉ có thể chiếm những phần tử rất bé của chromosome: mỗi đặc tính sẽ chiếm một căn cứ gọi là gen…

Một chromosome là một chuỗi gồm 2000 gen và như thế chiều dài của mỗi gen không quá 3/10000mm hay ba trăm Angtrom. Theo đó một gen dài bằng một trăm lần khoảng cách giữa hai nguyên tử trong một khí. Còn bao nhiêu khái niệm hiện đại khác mà GS Bửu viết bằng tiếng Anh (hoặc có bớt đi các âm thừa) như Crossing-over, Homozygot, Heterozygot, Phenotyp, Genotyp, Haploid, Gamete, Mitose, Meiose, Diploid, Mutation… Bất kỳ nhà sinh học nào đọc lại cuốn sách mỏng này và nhớ rằng GS Bửu viết ra vào năm 1948 thì chỉ có thể từ ngạc nhiên đến khâm phục.

Ngày nay, khi các nhà sinh học trên thế giới bắt đầu chuyển sang nghiên cứu Sinh học lượng tử (Quantum Biology) thì ngay trong cuốn sách rất mỏng kia GS Bửu đã khẳng định được rằng: Gen, phân tử khổng lồ, theo thuyết Delbruck, cũng là một hệ thống phải cắt nghĩa bằng những định luật của Lượng tử học. Tiếc rằng tác phẩm này GS Bửu viết bằng tiếng Việt chứ nếu không chắc hẳn phải được coi là một trong những trước tác kinh điển của giới Sinh học quốc tế,vì trong đó đã có những tiên đoán rất khoa học.

Về những uyên bác trong Toán học và Vật lý học của GS Bửu chắc chúng ta đều đã biết rõ. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi biết GS Bửu là người cùng KS. Phạm Quang Lễ (tức GS Trần Đại Nghĩa sau này) đã lên Thái Nguyên thử đạn bazôca của Mỹ ngay sau khi KS Lễ vừa theo Bác Hồ từ Pháp về Hà Nội. Ông không chỉ uyên bác về kiến thức mà rất tài hoa trong việc viết tài liệu phổ biến khoa học. Cái khó mà tôi cố học ở ông là: viết thế nào để ai đọc cũng thấy những cái mới nhưng ai đọc cũng hiểu được, hay ít nhiều hiểu được nội dung chủ yếu.

Sự uyên bác của GS Bửu gắn liền với tinh thần tự học suốt đời của ông. Ông chỉ có bằng Cử nhân trong tay, cho nên khi có người hỏi bằng cấp nào cao nhất mà ông có thì người ta đồn rằng ông đã trả lời là Bằng bơi lội do Hoàng gia Anh cấp (!).

Ông miệt mài đọc sách và chọn toàn những quyển cốt lõi nhất để đọc. Thí dụ như về sinh học ông chọn cuốn Was is Leben của E.Schrdinger qua bản dịch tiếng Đức (vì không có nguyên bản tiếng Anh). Ông thông thạo tiếng Anh, Pháp, Đức, Nga và cả chữ Hán nữa. Khi đã ở cương vị lãnh đạo cao, GS Bửu vẫn đều đặn đến thư viện khoa học để tự chọn sách mượn về đọc.

Là người lãnh đạo ngành đại học và trung học chuyên nghiệp trong 11 năm trời, GS Bửu đã đặt nền móng cho sự nghiệp đào tạo không chỉ cho hai ngành này mà cả cho ngành giáo dục phổ thông nữa.

Xin nhắc lại một số ý kiến mà GS Bửu đã từng phát biểu: Mục đích phấn đấu của chúng ta là làm cho học sinh tốt nghiệp lớp 10 phải biết làm một số việc như biến đổi đại số, giải một số phương trình đại số, tính được một số đạo hàm, vẽ một số đồ thị; còn về mặt hình học cũng phải biết làm một số động tác cần cho các chứng minh và cho việc dựng hình. Biết làm là chủ yếu còn biết nhiều về toán học chỉ là yêu cầu phụ và chúng ta phải làm sao cho học sinh thông qua biết làm mà biết nhiều và biết sâu…Thầy cần tránh nói sai để sau phải cải chính lại, vì cải chính chỉ xóa bỏ cái sai của thầy chứ không xóa được cái sai mà trò đã tiếp thu….

Ở bậc phổ thông, bài tập nên theo sát từng đợt các bài giảng để học sinh nắm vững định nghĩa và quy tắc. Rõ ràng không cần nhiều bài tập mà cần một số ít nhưng thật tiêu biểu, nhất định phải làm được…Thần đồng toán học là một quá trình xây dựng chứ không phải là một hiện tượng bẩm sinh… Chúng ta nên kiên quyết tập cho học sinh từ bé cân nhắc trước khi viết, biết quý sự viết ít mà đúng, làm sao chỉ nháp một lần, và bản nháp đã gần như bản sạch… Hình như chúng ta chưa làm được bao nhiêu so với các lời căn dặn của GS Bửu (!).

Trong gần một thập kỷ phụ trách việc xây dựng và quản lý nền khoa học và công nghệ nước ta, GS Bửu cũng đã có biết bao chính kiến cơ bản và thỏa đáng. Chúng ta không thể quên những lời chỉ bảo của ông, chẳng hạn như: Kỹ thuật là nhập cảng, là bắt chước, rồi cải tiến, sáng tạo trong cái bắt chước…Tất nhiên chúng ta càng phải sáng tạo.

Nhưng sáng tạo ở đâu? Sáng tạo thế nào? Sáng tạo để làm gì? Chưa thật rõ ràng lắm. Phải chăng chúng ta phải sáng tạo để nâng cao hiệu suất và chất lượng? Ý thức về chất lượng, kỷ luật và chất lượng của chúng ta còn thấp. Cứ như vậy mãi, sẽ khó mà có tiến bộ kỹ thuật, đừng nói gì đến cách mạng kỹ thuật… Chúng ta phải thanh toán càng nhanh càng tốt hiện tượng sản xuất không có kỹ thuật. Hơn nữa, chúng ta phải tiến đến thanh toán kỹ thuật không có cơ sở khoa học…Trường chúng ta phải là trường vừa học vừa làm để đào tạo ra những người vừa làm vừa học…

GS Tạ Quang Bửu có một nhân cách hết sức quý giá. Chưa bao giờ ông lo nghĩ cho riêng bản thân mình. Nghe nói ông dùng chiếc TV đen trắng cho mãi đến khi người con rể tặng ông một chiếc TV màu (!). Ông rất gần gũi với mọi người và biết chọn trong mỗi ngành những người giỏi để trực tiếp giao nhiệm vụ. Ông giao cho những việc rất cụ thể và tận tình hướng dẫn để có thể làm bằng được. Đi công tác địa phương ông kéo những cán bộ này đi theo và chỉ định những nhiệm vụ khoa học cần giải quyết. Càng giỏi càng khiêm tốn và càng biết tin dùng lớp trẻ. Đó là bài học không phải ai cũng có thể học được.

Giáo sư Tạ Quang Bửu đã chia tay với chúng ta 19 năm rồi, nhưng tấm gương và những lời căn dặn của ông luôn còn mãi trong những người được có dịp làm việc với ông, những học trò của ông và tất cả những ai được biết đến về tài năng và nhân cách của ông. Kỷ niệm 95 năm ngày sinh của ông, chúng ta nên nhớ đến một câu ông đã viết trong tác phẩm “Sống”: Điều cốt yếu không phải là sống là gì. Điều cốt yếu là làm gì trong lúc sống.

Nguyễn Lân Dũng (Sài Gòn giải phóng)

NĂM THÁNG QUA ĐI, TIẾNG THƠM CÒN LẠI

Vào dịp đầu xuân 2005, TS Ngô Đặng Nhân, Tổng biên tập Tạp chí Hoạt động Khoa học cho tôi biết: Bộ KH&CN sắp xuất bản một cuốn sách về các công trình đã được phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về KH&CN. Anh Nhân mời tôi viết bài. Tôi sốt sắng nhận lời vì cảm thấy đây là một cuốn sách rất có ý nghĩa, hơn nữa, lại là đề tài quen thuộc với tôi. 22 tác giả được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và 3 tác giả được tặng Giải thưởng Nhà nước mà tôi nhận viết, kẻ mất, người còn, nhưng tất cả đều là những nhà khoa học mà tôi đã từng gặp mặt, chuyện trò, cho nên tôi cảm thấy vững tâm khi ngồi vào bàn phím máy tính "gõ" bài...

Năm qua, cả nước ta xúc động kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Năm nay, mọi người lại hào hứng kỷ niệm 30 năm giải phóng miền nam, 60 năm Cách mạng tháng Tám. Thế kỷ XX chứng kiến sự hồi sinh của dân tộc. Sự hồi sinh ấy không thể nào diễn ra được nếu thiếu những hy sinh thầm lặng của biết bao con người, trong đó có các nhà khoa học mà tiêu biểu là những người được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước.

Cứ mỗi lần đến Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, tôi lại vòng xe máy qua con phố ngoằn ngoèo, nhiều ngõ ngách – phố Tạ Quang Bửu. Ông là vị Hiệu trưởng trường này từ những ngày đầu, và cũng là người vào năm 1972 – giữa lúc Nixon ném bom trải thảm và thả thuỷ lôi phong toả miền bắc nước ta – chỉ đạo tổ GK1, do TSKH Vũ Đình Cự làm tổ trưởng, nghiên cứu, chế tạo các loại khí tài gây nhiễu hoặc phá nổ thuỷ lôi từ tính và bom từ trường, góp sức mở đường cho tàu xe ta lao ra tiền tuyến. Tôi cũng nhớ, mấy mươi năm trước, khi còn là một cậu học sinh Trường cấp ba Huỳnh Thúc Kháng bên dòng Lam trong biếc ở xứ Nghệ thân thương, tôi đã từng say mê ngồi đọc – dưới ánh đèn dầu lạc – những cuốn sách mỏng của GS Tạ Quang Bửu in trên giấy dó từ Việt Bắc chuyển vào. Là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, bận trăm công nghìn việc, thế mà ông vẫn dành thì giờ viết sách nhằm bồi đắp tri thức hiện đại cho lớp trẻ ở vùng tự do. Đó là những cuốn Vật lý cương yếu, Thống kê thường thức, Nguyên tử – Hạt nhân – Vũ trụ tuyến, và Sống. Mấy cuốn sách ấy, ngày nay ngồi đọc, có thể có bạn chê là sơ sài! Nhưng vào năm 1947, thì lại khác. Tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc năm 1948 ở Việt Bắc, GS Nguyễn Xiển nhận xét: "Trong thời kỳ kháng chiến này, ông Tạ Quang Bửu là nhà khoa học viết được nhiều nhất, do vậy, có thể ảnh hưởng nhiều nhất đến các thế hệ đương thời". Và ông dự báo: "Với những người mở đường như ông Tạ Quang Bửu, ông Lê Văn Thiêm, chắc chắn nước ta sẽ có hàng trăm nhà toán học có tài không kém các nước khác".

Năm 1996, GS Tạ Quang Bửu được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về: "Tập hợp các công trình giới thiệu khoa học – kỹ thuật hiện đại (sau 1945), chỉ đạo các nhiệm vụ kỹ thuật quan trọng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước".

Dự báo của GS Nguyễn Xiển, về sau, đã trở thành hiện thực. Nước ta đã có những nhà toán học, nhà vật lý, nhà cơ học có công trình đạt trình độ cao quốc tế, được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh như GS Hoàng Tuỵ, GS Nguyễn Văn Hiệu, GS Nguyễn Đình Tứ, GS Nguyễn Văn Đạo. Toán học thế giới đã biết tới lát cắt Tuỵ (Tuy’s cut), thuật toán kiểu Tuỵ (Tuy-type algorithm), điều kiện không tương thích Tuỵ (Tuy’s inconsistency condition)...

Rời Trường Bách khoa sang Trường Y, tôi quành xe qua nhiều phố mang tên các bậc danh y: phố Tôn Thất Tùng, phố Phạm Ngọc Thạch, phố Hồ Đắc Di, phố Đặng Văn Ngữ.

Nào ai sống mãi trong cõi thế gian?

Song "hổ chết để da, người chết để tiếng"!

Tiếng thơm của những người thầy thuốc quên mình vì nước ấy sẽ còn lại mãi với phố phường Hà Nội "lắng hồn núi sông nghìn năm"...

Là người làm báo đặt chân khắp nước, tôi còn có dịp đi qua bốn phố Tôn Thất Tùng ở bốn địa phương: Huế, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Cao Lãnh (tỉnh Đồng Tháp). Nhân dân ta hết lòng yêu quý nhà y học huyền thoại ấy. Ông là người đã từng đứng trong hầm mổ ở Điện Biên Phủ – không xa hầm chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp – tự tay cứu sống hàng trăm chiến sĩ. Ông là vị giáo sư Trường Đại học Y kháng chiến ở Chiêm Hoá (Tuyên Quang) cùng GS Hồ Đắc Di và GS Đặng Văn Ngữ góp công đào tạo nhiều nhà y học đầu ngành như: Phạm Khuê, Nguyễn Huy Phan, Lê Thế Trung, Nguyễn Tài Thu, Phạm Song, v.v. Ông còn là tác giả của 122 công trình. Trước Cách mạng, vào những năm 1936-1945, ông đã công bố trên các tạp chí y học Pháp và Đông Dương 63 công trình - một con số kỷ lục, không chỉ ở nước ta thời ấy! Năm 1939, mới 27 tuổi, ông đã có công trình được tặng Huy chương Bạc của Liên hiệp Pháp. 28 tuổi, ông được tặng Huy chương Bạc của Trường Đại học Y Paris, và được cử giữ chức Trưởng khoa Ngoại Trường Đại học Y Hà Nội. Với phương pháp cắt gan khô nổi tiếng, về sau được gọi là phương pháp Tôn Thất Tùng (Ton That Tung’s Method), ông được tặng Huy chương Vàng Phẫu thuật Quốc tế Lannelongue, giải thưởng cao quý nhất của ngành phẫu thuật thế giới, 5 năm mới tặng một lần cho một nhà phẫu thuật duy nhất trên cả hành tinh. Cũng chính về công trình này, GS Tôn Thất Tùng được Nhà nước ta tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Lòng yêu nước của các nhà khoa học nước ta bừng sáng rực rỡ trong phút giây vận mệnh Tổ quốc như "nghìn cân treo sợi tóc".

Một ngày đầu tháng 3.2005, tại quán cà phê Roma đầu đường Hai Bà Trưng, tôi gặp lại kỹ sư Lê Tâm. Tôi quen anh Tâm hơn 20 năm về trước, khi tôi còn giữ chức Tổng biên tập Tạp chí Tổ quốc, làm việc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của GS Nguyễn Xiển, Chủ tịch Hội đồng Biên tập. Do công việc đòi hỏi, tôi thường đến nhà riêng GS Nguyễn Xiển ở phía sau Nhà hát Lớn. Tại đây, tôi nhiều lần gặp anh Tâm, con rể bác Xiển. Anh quá kín tiếng, nên tôi không hề hay biết gì về chiến công của anh thời chống Pháp. Mãi tới năm 1996, khi anh được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về vũ khí SS, tôi mới giật mình! SS là chữ viết tắt của Súng Rừng Sác, thứ súng bắn đạn lõm dễ dàng xuyên thủng vỏ thép xe tăng như chiếc đũa xuyên qua... cục bơ! Thứ súng đó được anh Tâm và cộng sự chế trong vùng rừng sác lầy lội đầy muỗi vắt Bà Rịa - Vũng Tàu...

Lê Tâm chỉ là "bí danh"; tên thật của anh là Nguyễn Hy Hiền. Anh sinh trưởng trong một gia đình đại nho xứ Huế; ông cụ thân sinh từng làm chánh chủ khảo nhiều kỳ thi hội, lấy đỗ tiến sĩ, phó bảng. Năm 1939, Nguyễn Hy Hiền đỗ đầu tú tài Tây ở Huế, được cấp học bổng, cùng Lê Văn Thiêm lên một chuyến tàu thuỷ lênh đênh hàng tháng trời trên biển sang Pháp. Anh Thiêm, sau đó, vào học Trường Đại học Sư phạm Paris, cùng trường với anh Trần Đức Thảo. Anh Hiền học Trường Quốc gia Cầu Đường; tại đây anh Phạm Quang Lễ (tức Trần Đại Nghĩa) đã từng theo học. Ởã Paris hình thành một nhóm trí thức nồng nhiệt hướng về cách mạng: Nguyễn Khắc Viện, Phạm Quang Lễ, Phạm Huy Thông, Lê Văn Thiêm, Trần Đức Thảo, Nguyễn Hy Hiền, Hoàng Xuân Nhị... Chẳng bao lâu sau, cả nhóm đều từ bỏ cuộc sống nơi "đô thành hoa lệ", trở về nước, sống, chiến đấu giữa rừng xanh Việt Bắc và bưng biền Đồng Tháp, "bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng" với đồng bào, đồng chí.

Năm tháng sẽ qua đi... Nhưng danh thơm của những nhà khoa học nặng lòng vì nước ấy vẫn còn lại mãi...


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội - Giáo sư Tạ Quang Bửu

Tạ Quang Bửu - một trí tuệ quảng bác

Bác Bửu, bác Oanh, chị Giao, a Quang, a Vinh, a Chính, bạn Nghĩa, em Mai...Từng gương mặt hiện ra trong Ký Ức, những ngừoi gắn bó với tôi lúc Tuổi Thơ....


phan huỳnh điểu
Làn gió thơm hương đêm về quanh khu nhà tôi mới cất xong chiều qua

Tôi đứng trên tầng gác thật cao nhìn ra chân trời xa xa
Từ bao mái nhà đèn hoa sáng ngời bầu trời thêm muôn vì sao sáng
Tôi ngắm bao gia đình lửa ấm tình yêu nghe máu trong tim hoà niềm vui lâng lâng lời ca
Em ơi, anh còn đi xây nhiều nhà khắp nơi
Nhiều tổ ấm sống vui tình lứa đôi
Lòng anh thấy càng thương nhớ em
Dù xa nhau trọn ngày đêm anh càng yêu em càng hăng say xây cho nhà cao cao mãi
Ôi xinh đẹp Tổ Quốc của ta
lovetear's Avatar
Anh lắng nghe bao lời ân ái những bài tình ca ....

Lòng nhớ thương quê hương miền Nam anh hằng tha thiết mong ngày mai
Anh sẽ đi về khắp làng quê xây những ngôi nhà tương lai
Dòng sông mát xanh vòng quanh phố phường và nhiều công trường xây niềm vui mới
Khi bóng đêm trở về rực ánh đèn lên em thấy như muôn ngàn vì sao thêu trong đêm tối
Em ơi tuy giờ đây hai miền còn cách xa
Niềm chia cắt thắt đau lòng chúng ta
Nhưng không thể xóa được hình bóng em
Dù xa nhau trọn ngày đêm, anh càng yêu em càng hăng say xây cho nhà cao cao mãi
Ôi xinh đẹp Tổ Quốc của ta

Anh lắng nghe bao lời ân ái những bài tình ca.

(“Những Ánh sao đêm” k ai qua được Quốc Hương—nhưng nhạc đệm hồi đó không hay—nên quyết định chọn bài này
Quốc Hương được ô. Phan Trọng Tuệ rất ái mộ & luôn dẫn theo mình. 1 hôm ô.Tuệ giói thiệu với Cha tui thì ông Ghiền lun ! hồi đó kcó Thu âm nên QH fải hát liên tục)
.








-------------------------------------------------------------------------------------

Cương Quyết Ra Đi

K8 mến tặng các anh K3 !

0 comments: