29.8.07

Những trận kinh điển


















THERE YOU’LL BE

When I think back on these times
And the dreams we left behind
I'll be glad cause I was blessed to get to have you in my life
When I look back on these days
I look and see your face
You were right there for me

In my dreams I'll always see you soar above the sky
In my heart there'll always be a place for you for all my life
I'll keep a part of you with me
And everywhere I am there you'll be
And everywhere I am there you'll be

You know you showed me how it feels
to feel the sky within my reach
and I always will remember all the strength you gave to me
your love made me make it through
Oh, I owe so much to you
you were right there for me

In my dreams I'll always see you soar above the sky
In my heart there'll always be a place for you for all my life
I'll keep a part of you with me
And everywhere I am there you'll be

Cause I always saw in you my light my strength
And I want to thank you now
for all the ways
you were right there for me
you were right there for me..
always

In my dreams I'll always see you soar above the sky
In my heart there'll always be a place for you
for all my life
I'll keep a part of you with me
And everywhere I am there you'll be
And everywhere I am there you'll be
There you'll be.

Tạm Dịch:
VỀ BÊN EM ANH NHÉ

Khi em hồi tưởng lại quá khứ và giấc mơ của của hai ta
em rất vui khi có anh trong cuộc đời này
những lúc em nhìn ngắm khuôn mặt anh
anh luôn ở bên em

Trong giấc mơ em thấy anh bay lên bầu trời
anh trong trái tim em suốt cuộc đời
em sẽ giữ lại một phần của anh bên em
và cho dù em có ở đâu chăng nữa
anh vẫn sẽ luôn bên em

Anh cho em cảm giác chạm tới bầu trời
em sẽ luôn nhớ sức mạnh của anh
Nó giúp em vượt qua nỗi đau
Ôi em đã nợ anh quá nhiều
anh vẫn sẽ luôn bên em...



Ca khúc There you'll be do Faith Hill thể hiện trong bộ phim Trân Châu Cảng. Câu chuyện buồn về mối tình tay 3 và một người phi công đã không thể quay về với vợ con. Trước lúc hi sinh, anh đã kịp nhắn nhủ với người bạn thân nhất là hãy thay mình chăm sóc, bảo vệ và yêu thương họ (cả hai cùng yêu một cô gái). Anh ra đi khi còn rất trẻ, chưa kịp hưởng thụ cuộc sống hạnh phúc . Người bạn đã thực hiện đúng tâm nguyện của anh. Cảnh cuối: Rafe (tên người bạn) hỏi xem người con Danny có muốn bay lên không và họ đã cùng nhau bay vào ánh mặt trời.





- Năm 1942, vài ngày sau trận Trân Châu Cảng, những người đứng đầu chính quyền Mỹ giao cho tướng Leslie R. Groves phụ trách việc nghiên cứu và sản xuất quả bom nguyên tử đầu tiên. Groves đã tuyển dụng khoảng 30 nhà bác học và chọn lựa một trong những nhà vật lý học vĩ đại nhất thời kỳ đó, Robert Oppenheimer làm người chịu trách nhiệm chính…


- Trân Châu Cảng - trận tập kích định mệnh
Ngày 7/12/1941, máy bay Nhật đã bất ngờ tập kích vào hạm đội Mỹ tại Cảng Trân Châu. Đây là trận đánh định mệnh đối với cả Mỹ, Nhật Bản và châu Á-Thái Bình Dương.

Cuộc tập kích đầu tiên này diễn ra lúc 7 giờ 55 phút sáng, với sự tham dự của 183 máy bay xuất kích từ các hàng không mẫu hạm của Nhật Bản bí mật tiếp cận vùng biển Hawaii. Sau đó 1 giờ, 191 máy bay Nhật lại tập kích lần thứ hai. Cuộc tập kích này đánh dấu cuộc chiến tranh ở Thái Bình Dương bùng nổ, phía Nhật tạm thời chiếm ưu thế ở khu vực, thừa cơ xâm chiếm các nước Đông Nam Á

Kế hoạch này do Tổng tư lệnh hải quân Nhật Bản, Đô đốc Isoroku Yamamoto vạch ra. Yamamoto là chuyên gia về vấn đề Mỹ, đã từng học tập tại Đại học Havard, từng là Tùy viên quân sự hải quân, đại sứ Nhật tại Mỹ và đã tham quan, khảo sát nhiều cơ sở thuộc ngành công nghiệp Mỹ. Ông ta hiểu rõ, Mỹ có tiềm lực quân sự hùng hậu, một khi sản xuất đi vào quỹ đạo chiến tranh thì sẽ nhanh chóng trở thành người hùng quân sự không ai đánh đổ được, vì vậy chỉ khi nó còn đang lười biếng ngủ một giấc, đánh một trận dập đầu, không gượng nổi nữa.

Quần đảo Kuril ở phía Bắc Nhật Bản là một vùng xa xôi hẻo lánh, nơi neo đậu tầu thuyền quanh năm sương mù bao phủ, chủ lực hải quân Nhật thường lặng lẽ tập kết ở đó. Ngày 26/11/1941, một hạm đội khổng lồ do trung tướng hải quân Nagumo Chuichi chỉ huy, đã từ đây lên đường. Hạm đội này có 6 hàng không mẫu hạm, mang theo 360 máy bay, kèm theo là một đội hộ vệ gồm nhiều thiết giáp hạm, tuần dương hạm, khu trục hạm, mục tiêu đến của hạm đội này là Trân Châu cảng.

Quần đảo Hawaii là đầu mối giao thông quan trọng vùng giữa Thái Bình Dương, do 20 hòn đảo núi lửa và san hô tạo nên, trong đó chỉ có 10 đảo là có người ở, và thương nhân gốc Nhật chiếm 1/3 dân số, thủ phủ của quần đảo này là Honolulu. Đảo Oahu cách Honolulu 10 km, phía Tây đảo này là một cảng nước sâu yên gió, là căn cứ hải quân Mỹ lớn nhất tại Thái Bình Dương, đó chính là cảng Trân Châu.

Trước ngày hạm đội đặc biệt trên của Nhật xuất phát, quan hệ Nhật - Mỹ đã vô cùng căng thẳng. Vì thế, Nhật đã cử một “phái đoàn thân thiện” đến thăm Washington 12 ngày trước đó. Ngày 17/11/1941, đặc sứ Nhật, Kuruku và đại sứ Nhật tại Mỹ Nomura được sự tháp tùng của Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, Hell đã hội kiến Tổng thống Mỹ F. Roosevelt. Ông Roosevelt yêu cầu Nhật Bản rút quân khỏi Trung Quốc ngay. Đặc sứ Nhật đã từ chối yêu cầu đó. Quan hệ hai bên thực tế đã tan vỡ.

Sáng ngày 20/11, tại Quốc vụ viện Mỹ, đặc sứ Kuruku trao công hàm cho Ngoại trưởng Hell, yêu cầu Mỹ xóa bỏ cấm vận kinh tế với Nhật, ngừng viện trợ cho cuộc kháng chiến của Trung Quốc, và nói rõ đó là lập trường cuối cùng của Nhật.

Ngày 22/11, Tổng bộ hải quân Mỹ phá được bức điện mật của Ngoại trưởng Nhật, Hideki Tojo gửi cho đại sứ Nomura, bức điện này gọi công hàm mà Nomura trao cho Ngoại trưởng Mỹ là “thông điệp cuối cùng” và nói để ngăn ngừa phát sinh những “cố gắng cuối cùng” của “sự tình nào đó” nên thời hạn(có giá trị) của nó là 1 tuần lễ. Bộ Hải quân Mỹ cho rằng bức điện này cho thấy, sau ngày 29/11, quan hệ Nhật - Mỹ sẽ xuất hiện “sự tình nào đó” cũng có nghĩa là chiến tranh. Bức điện này được chuyển ngay lên Tổng thống.

"Bức thông điệp 14 đoạn"

Ngày 27/11, tức là ngày thứ hai khi hạm đội Nhật xuất phát, đặc sứ Nhật được Ngoại trưởng Mỹ tháp tùng đã xin gặp Tổng thống Roosevelt lần thứ hai. Tổng thống Mỹ thông qua đặc sứ Nhật cảnh cáo: “Nếu Nhật thi hành chủ nghĩa Hitler, cuối cùng sẽ thất bại”. Sau khi đặc sứ Nhật ra về, Roosevelt nói với những ngưòi xung quanh, dự đoán trong vài ngày nữa, Nhật Bản sẽ gây chiến. Dự đoán của ông không sai, lúc này hạm đội Nhật đang chạy hết tốc độ hướng về cảng Trân Châu. Ngày 6/12 là ngày thứ Bảy, trước khi xảy ra sự kiện cảng Trân Châu một ngày, Bộ Hải quân Mỹ lại thu được một bức điện mật của chính phủ Nhật gửi cho đại sứ Nomura. Bức điện dài này gồm 14 đoạn, sau này được gọi là “bức điện 14 đoạn”. Nội dung chủ yếu của bức điện là, thông tri cho chính phủ Mỹ, chính phủ Nhật từ chối kiến nghị của Mỹ và nói rõ “ trên thực tế, đàm phán đã tan vỡ.”

Khi 13 đoạn trước trong “bức điện 14 đoạn” được giải mã và chuyển ngay tới Nhà Trắng, đọc xong, Tổng thống Roosevelt nói: “Như thế này là chiến tranh phải bùng nổ.”. Đoạn thứ 14 của bức điện nhanh chóng được giải mã và dịch xong, yêu cầu đại sứ Nomura đúng 1 giờ trưa giao toàn bộ bức điện cho Ngoại trưởng Hell. Bộ Hải quân cho rằng nói 1 giờ tức là thời gian Nhật Bản tấn công. Bức điện cho thấy, phía Nhật sẽ không tuyên chiến mà đánh và nói rõ cả thời gian tấn công. Tuy nhiên nhà cầm quyền tối cao Nỹ không có biện pháp đối phó khẩn cấp nào thậm chí cũng không thông báo cho lực lượng tiền tuyến biết, khiến ngay cả bộ phận tiền tiêu của Hải quân cũng ở trong trạng thái tê liệt.

Chủ nhật ngày 7/12. Một buổi sáng yên tĩnh. Cách cảng Trân Châu 25 dặm Anh về phía Bắc có một trạm rađa, hai binh nhì Mỹ vừa xong phiên trựcđang chuẩn bị giao ca.

7 giờ 2 phút, họ thấy trên màn hình xuất hiện rất nhiều đốm sáng, chứng tỏ có rất nhiều máy bay đang bay tới, khoảng cách là 137 dặm Anh, họ vừa theo dõii vừa báo cáo cho sĩ quan trực ban. Sĩ quan trực ban phán đoán, số máy bay này có thể cất cánh từ hàng không mẫu hạm, cũng có thể là máy bay ném bom B-17 bay từ California tới. Anh ta nói: "Không lo, đó là người nhà mình".

Thế nhưng anh ta đã phán đoán sai. Đó chính là máy bay oanh tạc cất cánh từ hàng không mẫu hạm của Nhật, địa điểm cất cánh cách cảng Trân Châu 270 dặm Anh.

Từ 7 giờ 55 phút, 374 máy bay Nhật chia làm hai đợt, đợt một 183 chiếc và đợt hai 191 chiếc (mỗi đợt cách nhau trên 1 giờ) oanh kích bất ngờ hạm đội Mỹ tại càng Trân Châu. 7 giờ 58 phút, đài phát thanh cảng Trân Châu tuyên bố: “Cảng Trân Châu bị không kích. Báo động, đây không phải là diễn tập. Nhắc lại lần nữa, báo động, đây không phải là diễn tập”.

9 giờ 30 phút coi như cuộc tập kích bất ngờ kết thúc. 4 trong 8 thiết giáp hạm của Mỹ bị đánh chìm, 4 chiếc kia bị hỏng nặng, 18 chiến thuyền khác bị đánh chìm hoặc đánh bị thương, 188 máy bay bị hỏng, 291 chiếc khác bị thương, 2403 sĩ quan và binh lính Mỹ bị chết, bị thương gần 2000 người. Phía Nhật chỉ tổn thất 5 tầu ngầm nhỏ, 29 máy bay và chưa tới 100 người bị chết.

Cũng may, khi Nhật bất ngờ tập kích, 3 hàng không mẫu hạm và 11 tuần dương hạm của Mỹ hợp thành một hạm đội đang làm nhiệm vụ ở nơi khác nên không bị tổn thất.

2 giờ chiều, Kumuru, đặc sứ Nhât và Nomura, đại sứ Nhật đến Quốc vụ viện Mỹ trao Bị vong lục cho Ngoại trưởng Mỹ Hell. Mặc dù Tổng thống Roosevelt trước đó đã căn dặn Hell không được nổi giận, phải bình tĩnh với bọn họ, nhưng Hell vẫn không khống chế được cảm xúc. Vừa nhìn thấy bị vong lục ông nói ngay: “Trong cuộc đời 50 năm làm công chức, tôi chưa bao giờ thấy một văn kiện mặt dầy mày dạn tràn đầy giả dối và xảo quyệt như thế này”. Nói xong hất hàm chỉ ra phía cửa.

3 giờ chiều tin tức trên bắt đầu được truyền đi rộng rãi. 4 giờ chiều, các quan chức có liên quan bắt đầu họp tại Nhà Trắng. Cuộc họp kéo dài tới quá nửa đêm.

Ngày 8/12, nước Mỹ vẫn yên tĩnh khác thường, người ta như đang đợi Tổng thống nói điều gì. Và ngưòi ta nhớ tới lời Roosevelt nói khi tranh cử “trừ phi nước Mỹ bị tấn công”. Cái việc vốn được coi là không có khả năng ấy đã xuất hiện, những quả bom Nhật ném xuống cảng Trân Châu đã xua tan bức màn chủ nghĩa cô lập, khiến người khổng lồ công nghiệp thức tỉnh.

Trưa ngày hôm đó, Tổng thống Roosevelt nói chuyện trước quốc hội Mỹ: “Ngày 7/12 là ngày quốc sỉ. Hợp chủng quốc Mỹ đã bị hải quân Nhật Bản âm mưu tập kích bất ngờ, tôi đề nghị Quốc hội tuyên bố, do Nhật Bản phát động tấn công bất ngờ, nên nước Mỹ và Nhật Bản đã ở tình trạng chiến tranh”.


Tháng 8/1945, nước Nhật đã sức tàn lực kiệt, bại trận là không tránh khỏi. Mỹ đã ném xuống Nhật Bản hai quả bom nguyên tử. Đó là sự phục thù của Mỹ cho trận Trân Châu Cảng. Nhật Bản ký hiệp ước đầu hàng đồng minh, bị quân đội Mỹ chiếm đóng. Hai nước ký hòa ước và từ đó đến nay Nhật Bản là đồng minh thân cận nhất của Mỹ tại Đông Á./.


Trân Châu Cảng



------The image “http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/7a/PearlHarbor_Sm.jpg” cannot be displayed, because it contains errors.
Trân Châu Cảng nhìn từ vệ tinh. Căn cứ không quân Hickam và sân bay quốc tế Honolulu
Pearl Harbor là hải cảng trên đảo O'ahu, thuộc quần đảo Hawaii, phía tây thành phố Honululu.
Phần lớn cảng và các vùng xung quanh đều thuộc căn cứ hải quân vùng nước sâu của Hải quân Hoa Kỳ, đây là trung tâm chỉ huy của Hạm đội Thái Bình Dương. Tại đây diễn ra cuộc chiến nổi tiếng giữa đế quốc Nhật Bản và Hoa Kì - trận Trân Châu Cảng ngày 7 tháng 12 năm 1941, trận chiến này đã khởi đầu cho việc Mỹ tham gia Đại chiến thế giới lần thứ 2
-------The image “http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/b/b6/Hawaiianislandchain_USGS.png” cannot be displayed, because it contains errors.
-------------------------quần đảo Hawaii
Trân Châu Cảng vốn là phần mở rộng của một vịnh nước cạn được gọi là Wai Momi (nghĩa là "nước của trân châu") hay Pu'uloa theo cách gọi của người đân bản địa tại Hawai. Pu'uloa từng được coi là nơi ở của nữ thần Cá mập Ka'ahupahau và anh em trai của bà, Kahi'uka. Nơi đây đã rất dồi dào ngọc trai mãi cho đến cuối năm 1800.

Đảo san hô MidwayImage:Midway Islands.svg
Trong những năm kể từ sau sự hiện diện của thuyền trưởng James Cook, Trân Châu Cảng được nhận định là không thích hợp cho việc làm cảng bởi mực nước cạn ở đây. Sự quan tâm của chính phủ Mỹ lúc bấy giờ tại Đảo Sandwich là các chuyến hải trình để săn cá voi và các chuyến tàu buôn trên Thái Bình Duơng. Ngay từ năm 1820 , một "Một đặc vụ của Mỹ về Thương mại và Thủy thủ" đã quyết định xúc tiến một thuơng cảng của Mỹ tại Cảng Honolulu. Với những ràng buộc thuơng mại vững chắc với lục địa Mỹ châu , với những nỗ lực của Hội những người truyền giáo Hoa Kỳ thì các nhân tố tôn giáo khác cũng đã được cân nhắc. Điều này càng đúng khi các người truyền giáo và gia đình họ đã trở thành một phần không thể thiếu của người dân Hawai.
------- [Orthographic_projection_centred_over_midway.png]
---------Điểm chiếu trực giao Midway trên địa cầu
Ngoại trừ những biến cố không may mắn, nói chung uy tín của người Mỹ đã được tăng lên trên đảo Hawai . Một trong số những sai trái này là của trung úyJohn Percival vào năm 1826, điển hình là thủ đọan lạm quyền của ông trong thời điểm này. Khi con tàu của ông, chiếc USS Dolphin, đến Honolulu, thì một sắc lệnh cũng vừa được ban hành bởi những người truyền giáo có nội dung hạn chế việc bán rượu và buôn phụ nữ ra nước ngoài tại cảng Honolulu. Trung úy Percival và thủy thủ đoàn của ông ta cho rằng sắc lệnh mới này là không công bằng và chỉ với một sự đe dọa bạo hành, họ đã phế bỏ nó. Hành động này, it must be said, was later renounced by the United States and resulted in việc gửi đại sứ đến cho vua Kauikeaouli. Khi Đại úy Thomas ap Catesby Jones đến theo sự điều động của USS Peacock, ông ta là sĩ quan Hải quân đầu tiên đến thăm Hawai với các hướng dẫn nhằm thảo luận về các vấn đề quốc tế với qua và các tù trưởng ở Hawai và theo đó là ký kết một hiệp định thuơng mại.
...Trước đó cơ quan phản gián Nhật đã đề ra một loạt kế hoạch tuyệt mật và có những hoạt động kín đáo hết sức tinh vi khiến đối thủ lơ là mất cảnh giác.

Ngày 20/11/1941, thương thuyền Nichishigan cập cảng Tocara, thuộc quần đảo Kiukiu để tiếp nhận nhiên liệu, một nhóm nhân viên Mỹ đã lên tàu kiểm dịch. Họ kiểm tra tỉ mỉ mọi nơi có thể cất giấu hàng cấm, kể cả các nông sản có khả năng nhiễm khuẩn. Cuối cùng nhân viên kiểm tra đến cabin thuyền trưởng Yamura, yêu cầu ông cho kiểm tra chiếc va ly bảo hiểm. Các thuyền viên cảm thấy bị xúc phạm định ra tay can thiệp nhưng thuyền trưởng Yamura làm như không có vấn đề gì, đồng ý theo yêu cầu của người Mỹ.

[210061702_385742aa11.jpg]

[19.jpg]

Thực ra đây chỉ là cái cớ để kiểm tra xem trong va ly có dấu bản "mật mã đại dương" không, sau đó lợi dụng lúc thuyền trưởng không để ý, viên kiểm dịch đã lấy cắp bản mật mã rồi vội vã rời thuyền.
Khi phát hiện bị mất, thuyền trưởng Yamura vội báo với Bộ Ngoại giao Nhật Bản. Đại sứ Mưto khán nghị lên Bộ Ngoại giao Mỹ. Sau vài tiếng đàm phán căng thẳng, bản mật mã cuối cùng cũng "bình an" trở lại thuyền.

Mọi người đều biết thương thuyền là một bộ phận quan trọng của hải quân Nhật. Văn kiện tuyệt mật đó là của hải quân Nhật phát cho các thuyền để có thể bí mật liên lạc với hải quân. Nếu rơi vào tay kẻ khác dù chỉ vài tiếng cũng có nghĩa nội dung mật mã sẽ bị lộ. Đây hiển nhiên là hành động có tính toán trước của Mỹ, đặc biệt là của tình báo hải quân Mỹ.
Sau sự kiện Trân Châu Cảng, người ta mới biết người lấy cắp bản mật mã là L. Falagher, nhân viên Cục tình báo hải quân Mỹ. Falagher đã chụp lại bản mật mã rồi nhanh chóng chuyển về nước Mỹ. Về hành động này, anh ta khoe khoang với Washington: "Mọi hành động của người Nhật Bản đều bị giám sát chặt chẽ..."
Nhưng người Mỹ không ngờ rằng đó chỉ là một trò chơi gián điệp trong kế hoạch công phu của cơ quan phản gián Nhật.
Trước đó Oyama, gián điệp ngầm của Nhật tại Mỹ đã bí mật thông báo về nước rằng CIA đang cài một nhân viên tình báo vào cơ cấu quân sự hải ngoại của Nhật. Thế là người Nhật tương kế tựu kế, và để đánh lạc hướng tình báo Mỹ, cơ quan tình báo Nhật đã tiến hành huấn luyện trò chơi gián điệp cho các "yếu nhân" của thuyền. Đương nhiên các thuyền viên đều không biết bí mật này. Còn viên thuyền trưởng Yamura lúc đó mặt mày tái mét cũng chỉ là đóng kịch, nhưng ông ta đóng thật đến nỗi các thuyền viên suýt nữa nổi loạn khiến vở kịch càng hoàn hảo.
Quá tin vào "tai mắt" của mình, Giám đốc Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI) thậm chí còn không thèm đếm xỉa đến báo cáo của nhân viên Robert Refot về nội dung mục quảng cáo trò chơi gieo xúc xắc đăng trên trang 86, tạp chí Người New York ngày 22/11/1941. Đây thực sự là một cách "thông báo" khôn ngoan của một điệp viên Mỹ nằm vùng khi đó. Hãy đọc lời miêu tả quảng cáo: "có một không hai" này để thấy phía Nhật đang chuẩn bị cho giờ G như thế nào?
Nửa trên bức tranh quảng cáo là cảnh hoàng hôn hoang tàn đổ nát, bầu trời đêm đỏ rực ánh lửa đạn pháo oanh tạc; nửa dưới là hình ảnh người dân tỵ nạn trong hầm trú ẩn đang say mê trò giao xúc xắc. Phía dưới viết dòng chữ: "Chú ý! Cảnh giác! Cảnh báo!", và một dòng khuyên mọi người ngoài mang theo đồ hộp, nến, bình nước, áo lông, chăn, sách và các dược phẩm nhu yếu, hãy mang theo đồ chơi gieo xúc xắc này. Chỉ cần bỏ ra 2,5 USD bạn có thể mua nó ở các cửa hàng dụng cụ thể thao và các siêu thị. Ngoài ra, còn có nhiều hình quảng cáo nhỏ minh hoạ và hướng dẫn cách chơi. Trên những hình đó dạy cách phân biệt hai loại xúc xắc, chiếc thứ nhất chỉ tháng, chiếc thứ hai chỉ ngày, hai chữ X tượng trưng cho cái chết. Như vậy trong hình đã ám thị hai ngày 5/12 và 7/12.

Phải chăng con số trên xúc xắc là tin bí mật? Nhật muốn qua những tin rải rác này để thông báo với nhân viên nằm vùng của mình biết ngày bắt đầu tấn công Trân Châu Cảng?
Đáng tiếc sự việc xảy ra như được tiên đoán trước. Đêm trước hôm bị tấn công (6/12), tổng thống Roosevelt thậm chí không để mắt tới bức điện "ngừng đàm phán" mà Cục Tình báo thu được từ phía Nhật. Trái lại, ông đóng cửa văn phòng để thưởng thức bộ sưu tầm tem. Thống đốc hải quân Knock thì ung dung ngồi xem kịch tại nhà hát. Tham mưu trưởng lục quân, tướng Mashan lại cùng vợ đi nghỉ cuối tuần.
Còn lính phòng thủ Trân Châu Cảng thì "bất ngờ" đến... sững sờ. Khi máy bay Nhật bắt đầu tấn công, Tư lệnh hải lục quân chỉ huy phòng thủ Hawai đang chơi gôn. Trạm rađa của căn cứ tuy có phát hiện hàng trăm máy bay từ phía Bắc bay tới nhưng sĩ quan trực ban đó cho rằng đó là máy bay... của phe mình. Thậm chí khi máy bay Nhật bắt đầu bắn phá, một số sĩ quan còn tưởng đó là cuộc "diễn tập đặc biệt". Lính Mỹ đã trở thành "vật thí mạng" đáng thương vì các nhân vật trọng yếu không làm tròn bổn phận.
Một tháng sau trận tập kích, FBI phải mở cuộc điều tra công ty in quảng cáo Wanton, tác giả của những trang quảng cáo trên. Giám đốc công ty, ông Clack rất tích cực hợp tác nhưng FBI cũng không thể tìm được chứng cứ buộc tội. Sau đó, trong quá trình điều tra, người ta còn phát hiện ra rất nhiều dấu hiệu khả nghi mà Clack cũng không giải thích được vì ông ta đã qua đời năm 1946 trên đường đến Boston, bang Massachusetts.


Chỉ trong vòng chưa đầy ba tiếng đồng hồ, máy bay của Nhật đã nghiền nát hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, vụ không kích đã đẩy nước Mỹ vào Thế chiến II.
Photobucket - Video and Image Hosting
Các phi công Nhật đang nhận lệnh trên một chiếc tàu sân bay, trước khi thực hiện sứ mệnh tấn công Trân Châu Cảng. Đô đốc Nhật Yamamoto Isoroku lúc đó hy vọng một trận tấn công nhanh và bất ngờ vào hạm đội Mỹ sẽ khiến người Mỹ phải cầu hòa và rúi khỏi Thái Bình Dương, mở đường cho Nhật Bản bành trướng.
Photobucket - Video and Image Hosting
Các máy bay Nhật trên tàu sân bay chuẩn bị xuất kích. Có tổng cộng 183 chiếc máy bay của Tokyo tham gia đợt tấn công đầu tiên vào Trân Châu Cảng.


“Các máy bay giống một đàn ruồi kín đặc bầu trời”, phi công ném bom Abe Zenji nhớ lại.
Photobucket - Video and Image Hosting
Vào 7h58 sáng ngày 7/12/1941, chuông báo động vang lên: “Máy bay tấn công Trân Châu Cảng. Không phải là một cuộc diễn tập!”. Sau đó, cũng buổi sáng cùng ngày, kho đạn của chiến hạm USS Shaw phát nổ khi bị trúng bom Nhật.
Photobucket - Video and Image Hosting
Hai chiến hạm USS West Virginia và USS Tennessee bốc cháy ngùn ngụt. Cảnh tượng đó được một phi công ném bom Nhật sau đó kể lại là “một cảnh tượng thật hùng vĩ”.

Photobucket - Video and Image Hosting
Vào 7h56 phút sáng, chiến hạm USS Arizona rung chuyển bởi hai tiếng nổ đinh tai nhức óc. Rồi lửa bốc lên ngùn ngụt. Một người dân đang theo dõi vụ tấn công Trân Châu Cảng qua ống nhòm.

Photobucket - Video and Image Hosting
Sân bay hải quân của Mỹ ở Trân Châu Cảng chỉ còn là một đống đổ nát sau vụ tấn công. Tổng cộng 347 máy bay của Mỹ hoặc bị phá hủy hoặc bị hư hỏng.

Photobucket - Video and Image Hosting
Chiến hạm hạng nặng USS Arizona đang chìm xuống biển sau hai tiếng nổ cực lớn.

Photobucket - Video and Image Hosting
Tàu cứu hộ của hải quân đang cứu một thủy thủ vừa nhảy khỏi mạn tàu xuống biển, sau khi chiến hạm USS West Virginia bị trúng ngư lôi và chìm cạnh tàu USS Tennessee.

Photobucket - Video and Image Hosting
Đám cháy trên chiến hạm USS West Virginia vào lúc 9h40' sáng 7/12/1941. Phải tới tận 4h30' chiều hôm đó, ngọn lửa trên tàu mới được dập tắt.

Photobucket - Video and Image Hosting
Chiến hạm USS Oklahoma bị lật ngược trong Trân Châu Cảng.

Photobucket - Video and Image Hosting
[15-1.jpg]
Vụ tấn công Trân Châu Cảng khiến cuộc xung đột Mỹ-Nhật rơi vào thế không thể tránh khỏi. Ngay ngày hôm sau, lúc 4h chiều 8/12/1941, Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt đã ký vào bản tuyên chiến với phát xít Nhật, chính thức đẩy nước Mỹ vào cuộc Chiến tranh thế giới thứ II.

Những bài học đắt giá về để lộ bí mật quân sự
Để lộ thông tin thì dù thông tin đó ở mức độ nào cũng thường khiến ta rơi vào bị động và nếu là thông tin quân sự, trong chiến đấu thì khó tránh khỏi tổn thất, thương vong, có khi dẫn đến sụp đổ cả vương triều, chế độ. Nước Âu Lạc dưới thời vua Thục Phán (An Dương Vương) là như vậy.

Cái giá phải trả do để lộ thông tin tuyệt mật trong lịch sử Việt Nam thời kỳ hiện đại còn có thể thấy ở các cuộc khởi nghĩa Yên Bái (9-18/2/1930), Nam Kỳ (11-1940), binh biến Đô Lương (13-1-1941). Do ấu trĩ, đơn giản, để lộ thông tin, địch nắm được tổ chức lực lượng và kế hoạch khởi nghĩa của ta nên đàn áp trước khi khởi nghĩa nổ ra, bắt, giết hàng nghìn đảng viên, hầu hết là cán bộ từ Trung ương đến địa phương, phá nhiều cơ sở (riêng trong khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân Đảng); Tước vũ khí và quản thúc chặt chẽ tại trại những binh lính bị nghi là sẽ tham gia khởi nghĩa, làm cho ta giảm mạnh một lực lượng lớn có vũ khí, dẫn đến đảo lộn kế hoạch dự kiến, khiến các cuộc khởi nghĩa lâm vào thế bị động và thất bại.

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/4/4b/Midway_Atoll.jpg

Trong đại chiến thế giới lần thứ hai, ngày 4-4-1942, Nhật tiến công Mít-uây, do kế hoạch tiến công bị lộ, bởi thám mã Mỹ dịch được mật mã của Nhật, nên Mỹ giành lại quyền chủ động, đã tiêu diệt được 4 hàng không mẫu hạm, một tuần dương hạm hạng nặng của Nhật, trong khi Mỹ chỉ mất một hàng không mẫu hạm và một khu trục hạm. Một thiệt hại lớn nữa của Nhật là ngày 18-4-1943, đô đốc tham mưu trưởng hải quân Y-a-ma-mô-tô (người đã trực tiếp chỉ huy tập kích Trân Châu Cảng rất thành công, đang bị Mỹ truy tìm để trả thù) và 7 tướng khác cùng bộ tham mưu đi các đảo tiền đồn để khích lệ binh sĩ. Cũng do bị giải mã bí mật thông tin, Mỹ biết được lộ trình, liền dùng 16 máy bay P38 vây đánh. Các phi công cảm tử của Nhật mặc dù quyết chiến để bảo vệ máy bay chỉ huy, nhưng vì bị động và số lượng ít hơn (chỉ có 2 oanh tạc cơ và 6 chiến đấu cơ zê-rô), nên cuối cùng bị bắn rơi hết. 8 tướng và đoàn sĩ quan tùy tùng bị thiệt mạng. Tuy nhiên, nếu giữ được bí mật thông tin thì thắng lợi giành được lại cũng thật bất ngờ: Trong trận Trân Châu Cảng (7-12-1941), Hải quân Nhật vượt qua 6.300km đường biển, tới khu vực triển khai (cách Trân Châu Cảng 300 đến 500km) mà Mỹ không hề hay biết, rồi đột nhiên tập kích, làm cho Mỹ tổn thất lớn: Tiêu diệt 8 tàu thiết giáp hạm (đắm 4, 4 hư hỏng nặng), 6 tàu tuần dương và khu trục, 270 máy bay và 4.498 quân (theo số liệu Mỹ). Nhật nắm quyền khống chế trên biển Thái Bình Dương, buộc Mỹ phải tham gia chiến tranh chống trục phát-xít. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ (13-3 đến 7-5-1954), ta giữ được bí mật, bất ngờ xuất hiện hai lực lượng mới đầy uy lực là trọng pháo và cao xạ pháo. Nhờ đó chế áp được pháo binh, không quân địch, bảo vệ hiệu quả và chi viện đắc lực cho đội hình và hành động chiến đấu của bộ binh ta, gây tổn thất lớn, sự khiếp sợ và bất lực cho địch, khiến Pi-rốt (Phó chỉ huy tập đoàn cứ điểm, đặc trách về pháo binh) tự sát. Như vậy để lộ và giữ được bí mật thông tin đều có giá rất lớn.

sơ đồ vận hành 1 tháp pháo tàu chiến kiểu cũ: Khi bắn xong nòng súng hạ xuống. Cơ chế nạp đạn của súng trên tàu tương tự như vậy, phải hạ nòng súng xuống thì mới nạp đạn được.


Cục màu vàng là thuốc nổ (charge) độ chính xác của súng tùy thuộc nhiều vào cái này .
Cục màu xanh là đầu đạn ( có 2 loại là He và AP)
Cà 2 phải được để riêng ra để tránh rủi ro khi tàu bị trúng đạn.

The image “http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/b/b9/SBDs_and_Mikuma.jpg” cannot be displayed, because it contains errors.

Các máy bay ném bom bổ nhào Douglas SBD Dauntless của Hoa Kỳ tại Midway

[12-2.jpg]


Trân Châu Cảng

PHIM MỸ

Diễn viên: Ben Affeck, Josh Harnett, Kate Beckinsale, Cuba Gooding Jr, Jon Voight, Alec Baldwin, Tom Seizmore.

070120-tran.jpgTrận đánh lịch sử Trân Châu Cảng được tái hiện thông qua hình ảnh của hai người bạn thân từ thời thơ ấu. Rafe là phi công trẻ, anh phục vụ trong lực lượng Không Quân Hoàng Gia Anh, khi Mỹ vẫn chưa tham gia cuộc chiến. Sau khi Rafe bị bắn và mọi người nghĩ rằng Rafe đã chết, thời gian đó Danny - bạn thân của Rafe - đến an ủi Evelyn, cô y tá xinh đẹp và là người yêu của Rafe. Sự gần gũi và chia sẻ trong thời gian đã làm nảy sinh tình yêu giữa hai người và tình cảm giữa Danny và Evelyn ngày càng phát triển. Danny sau đó cũng gia nhập lực lượng Không Quân Hoa Kỳ và được thuyên chuyển đến Hawaii. Còn Rafe, thật ra anh không chết. Chính vì thế sự trở về của Rafe khiến cho Evelyn khó xử, từ hai người bạn thân, Rafe và Danny trở thành hai đối thủ của nhau. Tuy nhiên, trước sự hỗn loạn ở Trân Châu Cảng và cuộc chiến đã thật sự nổ ra, Rafe và Danny đã bỏ qua những bất đồng để cùng sát cánh bên nhau trong trận chiến. Bộ phim lịch sử và rất tình cảm này dài hơn 3 tiếng với kinh phí sản xuất khổng lồ, nhiều cảnh quay hoành tráng, hấp dẫn.

TRẬN TRÂN CHÂU CẢNG (7.12.1941): đòn đột kích của hải quân Nhật vào căn cứ hải quân Mĩ ở Trân Châu Cảng trên đảo Haoai (Hawaii), nhằm tiêu diệt một lực lượng lớn hạm đội Thái Bình Dương của Mĩ, giành quyền khống chế trên biển ở tây Thái Bình Dương, mở đầu chiến tranh với Mĩ trong Chiến tranh thế giới II. Kế hoạch do đô đốc Yamamôtô (I. Yamamoto, tư lệnh hạm đội Nhật Bản) vạch ra; lực lượng trực tiếp thực hiện gồm 6 tàu sân bay, 2 tàu thiết giáp, 2 tàu tuần dương và một số tàu khu trục... do phó đô đốc Nagumô (C. Nagumo) chỉ huy. Sau khi tập kết ở Takan [vũng nhỏ ở đảo Iturup (Iturup) trong quần đảo Kurin), ngày 26.11.1941, cụm tàu này xuất phát tiến về phía đông và giữ im lặng vô tuyến điện tuyệt đối. Sau đó, các tàu khu trục được lệnh quay lại, còn các tàu khác hướng về mục tiêu và đến bắc Haoai 200 dặm lúc 6 giờ ngày 7.12 một cách bí mật. Đợt tiến công đầu tiên của các máy bay Nhật Bản bắt đầu lúc 7 giờ 59 phút. Phía Mĩ hoàn toàn bị bất ngờ, chỉ phát hiện đó là máy bay Nhật Bản khi các quả bom đầu tiên rơi xuống. Chỉ có 4 máy bay Mĩ cất cánh được, trong đó 3 chiếc bị bắn rơi ngay. Đợt 2 diễn ra lúc 8 giờ 40 phút đến 9 giờ 15 phút. Pháo phòng không Mĩ hạ được 1 máy bay Nhật Bản. Trong trận này, Mĩ bị thiệt hại nặng nề: 3 tàu thiết giáp bị phá huỷ, 3 bị thương nặng, 3 tàu bị thương nhẹ; 3 tàu tuần dương bị thương (trong số 9 tàu tuần dương); 2 tàu khu trục bị thương và cháy (trong số 29 tàu khu trục); 2 tàu bổ trợ bị đắm, 2 tàu bị thương; 2.403 người chết. Phía Nhật Bản mất 29 máy bay và 55 phi công. Đối với Mĩ, TTCC thực sự là một thảm hoạ mà nguyên nhân trước hết là do tình báo kém và mất cảnh giác.

`
ViewMore FromRelated VideosCommentsSaveShareSend
ViewMore FromRelated VideosCommentsSaveShareSend
ViewMore FromRelated VideosCommentsSaveShareSend


Nhà Trắng đã so sánh vụ khủng bố nước Mỹ của Al-Qaeda ngày 11/9/2001 với vụ tấn công của quân Nhật vào Trân Châu Cảng ngày 7/12/1941. Vào ngày đó, các máy bay và tàu ngầm Nhật đã oanh tạc dữ dội các chiến hạm Mỹ ở cảng Trân Châu. Cuộc tập kích bất ngờ gây ra tổn thất nặng nề chưa từng có trong lịch sử hải quân Mỹ: 5 chiến hạm hạng nặng cùng 19 tàu chiến bị đánh chìm, 177 máy bay bị phá huỷ cùng hơn 3.000 binh sĩ và sĩ quan Mỹ thiệt mạng

YAMAMÔTÔ IXÔRÔCU
(Yamamoto Isoroku; 1884 - 1943), đô đốc Nhật Bản, người vạch kế hoạch chỉ huy trận Trân Châu Cảng. Thứ trưởng hải quân 1936 - 39, tư lệnh hải quân từ 1939. Một trong những người tổ chức việc gây chiến tranh Thái Bình Dương 12.1941 trong Chiến tranh thế giới II. Chết vì máy bay bị bắn rơi.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/1/1c/Pearl_Harbor_bombings_map.jpgquân Nhật đã sử dụng một đội phi công cảm tử (là lực lượng chủ yếu trong trận này) và một loại ngư lôi mới có khả năng di chuyển ở một mực nước khá thấp. Đây cũng là các yếu tố mà phía Mĩ không lường trước được,nên hạm đội Trân Châu Cảng ở đây hầu hết đã bị tiêu diệt.Sau trận chiến này quân Nhật đã mở rộng khu vực chiến sự của mình ra cả vùng Thái Bình Dương
-Cơ cấu của Hạm đội Thái Bình Dương - tháng 5 năm 1941:9 thiết giáp hạm, 3 hàng không mẫu hạm, 12 tuần dương hạm hạng nặng, 8 tuần dương hạm hạng nhẹ, 50 khu trục hạm, 33 tiềm thủy đỉnh, và 100 oanh tạch cơ tuần tra.
-------------http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/e/e6/Japanese_Empire.png
Đế quốc Nhật Bản. Cho tới trước khi Thế chiến thứ hai kết thúc, thuộc địa của Nhật tại vùng Đông Á đã tăng gấp gần 5 lần diện tích quốc gia.
-Kết quả của trận đánh cũng bất ngờ với Bộ chỉ huy Nhật. Kế hoạch được vạch ra lúc đầu là “đánh nhanh, rút nhanh”. Phó đô đốc Nagumô đã chỉ huy trận đánh theo đúng kế hoạch. Tập kích xong, hạm đội Nhật rút nhanh theo hướng Tây Bắc. Nếu bấy giờ quân Nhật tiếp tục truy kích tàn quân Mĩ tháo chạy về hướng đông thì thiệt hại của quân Mĩ chắc chắn sẽ còn nặng nề hơn rất nhiều. Tướng Mácsan của Mĩ từng cho rằng người Nhật đã sai lầm khi không lợi dụng thời cơ thuận lợi đó để chiếm lấy quân cảng Trân Châu. Cùng lúc cuộc tập kích Trân Châu Cảng đang diễn ra thì quân đội Nhật Bản cũng đã tiến hành hàng loạt các hoạt động quân sự tại nhiều nơi khác chống lại quân đội các nước thuộc khối Đồng Minh
Trận Trân Châu Cảng là 1 trận đánh có ý nghĩa chiến lược lớn. Thắng lợi quan trọng này đã loại khỏi vòng chiến đấu hạm đội Thái Bình Dương của Mĩ trong 1 thời gian, tạo điều kiện cho quân đội Nhật đánh chiếm nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á và làm chủ vùng biển Châu Á – Thái Bình Dương trong giai đoạn đầu của Chiến tranh thế giới thứ II
CHA ĐẺ CỦA KAMIKAZE
Khi nói đến Kamikaze (神風-Thần Phong), ai cũng biết đó là những chiếc máy bay cảm tử của không quân Nhật lao vào những tàu chiến của quân Mỹ, khi chiến tranh thế giới lần 2 vào hồi sắp kết thúc. Takijirō Ōnishi (2/6/1891–16/8/1945) (viết theo chữ Hán: 大西瀧治郎, viết theo Hiragana: おおにし たきじろう) là một thống đốc hải quân của Nhật, được biết đến như là cha đẻ của Kamikaze.
Takijiro Onishi
Hồi đầu chiến dịch Thái Bình Dương trong Đại chiến thế giới thứ 2 của Nhật, Onishi là Trưởng phòng phát triển không quân của Hải quân Nhật, và là người chịu một số trách nhiệm về kỹ thuật trong đợt tấn công của quân Nhật vào Trân Châu Cảng (Pearl Harbor), dưới sự lãnh đạo của thống đốc hải quân Isoroku Yamamoto. Bản thân Onishi đã từng phản đối cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng, khiến cho Mỹ sau đó tuyên chiến với Nhật và dẫn đến một cuộc chiến đẫm máu, và cuối cùng Nhật đã phải đầu hàng không điều kiện.

Vào tháng 10/1944, Onishi được thăng chức thành tư lệnh Chiến hạm Không quân ở phía bắc Phi Líp Pin. Onishi đã nghiên cứu các phương pháp đánh cảm tử vào những tàu chiến của quân Mỹ và Đồng minh, phương pháp mà hồi đầu Onishi đã từng phản đối. Sau khi bị mất dãy đảo Mariana, Onishi thay đổi ý kiến và ra lệnh tấn công bằng máy bay chứa đầy bom. Kế hoạch là khoảng 250 kg bom được đưa lên máy bay Misubishi A6M Zero và đâm thẳng vào tàu chiến địch.

Trong buổi gặp mặt ở sân bay Magracut gần Manila, Phi Líp Pin vào ngày 19/10, Onishi đến thăm đội bay 201 đã cho rằng: "Tôi nghĩ chúng ta sẽ không còn phương pháp nào giữ được Phi Líp Pin, bằng cách cho 250 kg bom lên chiếc Zero và đâm thẳng xuống tàu chiến Mỹ". Từ đó những cuộc tấn công theo kiểu Kazmikaze này liên tiếp được tiến hành, nhưng không phải mọi máy bay đều đâm trúng đích. Nhiều chiếc đã bị bắn rơi trước khi kịp đâm trúng mục tiêu.

Takijiro Onishi đã tự sát bằng phương thức tự mổ bụng (Seppuku) tại bản doanh của mình vào ngày 16/8/1945, trước khi Nhật bắt buộc phải đầu hàng vô điều kiện. Trong tờ giấy để lại, Onishi đã xin tạ lỗi trước linh hồn của khoảng 4000 phi công đã bỏ mạng trong các cuộc chiến Kamikaze dưới lệnh của Onishi, đồng thời khuyến cáo những công dân trẻ Nhật còn sống sót sau chiến tranh phải cố sức làm việc để xây dựng lại nước Nhật. Onishi cũng đồng thời mong cái chết của mình sẽ là sự tạ tội trước những phi công Kamikaze đã hy sinh và những gia đình của họ. Tuy nhiên, Onishi đã không sử dụng hình thức Kaishakunin (介錯人-hình thức để người khác chặt đầu giúp, sau khi tự mổ bụng), và chết vì vết thương sau 15 giờ.

Kamikaze là phương tiện được sử dụng trong một hình thái chiến tranh đặc biệt mà người Nhật đã tiến hành khi cuộc Ðại Chiến thế giới lần thứ hai đang có chiều hướng bất lợi cho họ. Hàng ngàn chiến sĩ cảm tử Nhật đã lái máy bay có gài bom đâm thẳng vào các hàng không mẫu hạm, các tàu chiến của hải quân Mỹ và đã gây cho đối phương những tổn thất không nhỏ.Tuy nhiên tinh thần quả cảm của họ vẫn không cứu vãn được cơ đồ của chính quyền quân phiệt Nhật trong một cuộc chiến tranh mà phần chính nghĩa không thuộc về họ.

Một bước ngoặt trong cuộc chiến

Tháng 6 năm 1281,hoàng đế Mông Cổ thực hiện một cuộc viễn chinh hùng hậu chưa từng có để 'trừng phạt' nước Nhật vì đã không triều cống cho họ. Hơn 3000 chiếc thuyền đưa 160.000 lính Mông Cổ,Trung Quốc,Cao ly cập bến Kyushu và các đảo Takashima,Hirado,trong lúc lực luợng phòng thủ Nhật đang ở vào một tình thế vô cùng bất lợi.Tuy nhiên, một điều bất ngờ đã diễn ra: ngày 15 tháng 8 năm đó,một trận cuồng phong nổi lên,đánh đắm cả đội tàu Mông Cổ,giải thoát nuớc Nhật khỏi hoạ xâm lăng đã gần kề.Ngọn gió cứu tinh đó được người Nhật gọi là Kamikazé(ngọn gió của các vị thần). Sau này,nguời ta đọc thấy trong từ điển Petit Larousse từ Kamikazé với một nghĩa khác,dùng để chỉ những chiếc máy bay hay những phi công cảm tử biến mình thành những quả bom sống để phá tan các hạm đội của dối phương .

Trong những năm đầu thập niên 1940,khi hạm đội Mỹ khống chế Thái Bình Dương, những cuộc đụng độ Mỹ-Nhật thường xảy ra trên biển,điển hình là trận Trân Châu cảng ngày 7/12/1941 khiến lực lượng Mỹ bị tổn thất nặng nề.

Ðể thực hiện giấc mơ đưa cuộc chiến tranh đến tận đất Mỹ,người Nhật đã thả 9000 quả bong bóng có đường kính 10m,mang theo một hỗn hợp cháy nổ nặng 90kg,cho bay theo huớng gió về phía đông với vận tốc 300km/h và trên độ cao hon 10.000m.Khoảng 1000 quả bóng đã rơi trên đất Mỹ nhưng chỉ gây được những đám cháy không đáng kể.Vào lúc đơn vị 731 của tuớng Ishui Shiro đang nghiên cứu về một cuộc chiến tranh vi khuẩn,các kĩ sư Nhật nghĩ đến một loại 'ngư lôi nguời' có dây cháy chậm,do hai thợ lặn lén gắn vào vỏ tàu địch.Cuộc hành quân ngày 19/11/1944 với toán 5 'ngu lôi người' đầu tiên được 3 chiếc tàu ngầm đưa đến đảo Ulithi bị thất bại.Tháng 1/1945,cuộc hành quân thứ 2 chống lại các tàu Mỹ ở đảo Guam cũng mang lại những kết quả hết sức khiêm tốn.Những kinh nghiệm đó buộc nguời Nhật phải nghĩ đến một phương sách hữu hiệu hơn..Truớc ưu thế về hải quân và không quân của Mỹ,Bộ tham mưu Nhật bắt đầu nghĩ đến những cuộc tấn công cảm tử để tái lập thế quân bình lực lượng.Chỉ huy truởng căn cứ Nhật Tateyama gợi ý cho đô đốc Ito tổ chức và hợp thức hoá một chiến thuật như vậy.Ðề nghị không được đáp ứng nhưng nó đã len lỏi vào tâm trí mọi nguời.

Cuộc tấn công cảm tử phối hợp đầu tiên đuợc tiến hành như một sáng kiến của phi công 9 chiếc máy bay Zero và 8 oanh tạc cơ xuất phát từ can cứ Iwo-Jima vào ngày 5/7/1944. Kết quả là 12 chiếc đã bị chiến đấu cơ của Mỹ bắn hạ,5 chiếc trở về đuợc căn cứ.Ngày 15/10/1944,Ðô đốc Masabumi Arima cùng một hạm đội nhỏ đụng độ với hạm đội Mỹ ngoài khơi Philippines và bị bại trận. Bốn ngày sau,Ðô đốc Takijiro Onischi,Tu lệnh đệ nhất hạm đội hải-không quân tập hợp các sĩ quan của hạm đội 201 ở căn cứ Mabalacat,trên đảo Lucon,chuẩn bị cho cuộc đụng độ trên vịnh Leyte và biển Sibuyan.Bài nói chuyện của Onischi không có gì mập mờ: không quân Nhật không có đủ phương tiện để hoàn thành nhiệm vụ trên chiến trường,trừ phi áp dụng công thức:một người với một chiếc máy bay Zero và 250kg bom phá huỷ một hàng không mẫu hạm,tiêu diệt hàng ngàn nguời trên đó.Cả 26 phi công của hạm đội 201 đồng lòng quyết tử.Ngày 25/10/1944,cuộc tiến công 'đặc biệt của 5 máy bay tiêm kích thuộc phi đội Shikishima đã gặt hái thành công đáng kể:hàng không mẫu hạm Sain-Lô nổ tung và chìm lỉm,tàu Suwanee bị hu hỏng nặng với 150 nguời hi sinh và 10 máy bay bị phá huỷ.

Các đô đốc Mỹ nhận định rằng đây là một cuộc tấn công phối hợp có giới hạn của những Kamikazé,trong khi phía Nhật nhìn thấy ở đó giai đoạn mở đầu của một chiến thuật có thể đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc chiến. Sáng kiến của đô đốc Onischi có đủ sức thuyết phục. Ngày 25/11/1944,35 Kamikazé gây thiệt hại nặng nề cho các hàng không mẫu hạm Independance,Essex cùng một số tàu chiến khác;ngày 27/11,làm thiệt hại tàu thiết giáp Colorado và 2 tuần dương hạm...

Thêm vào những thiệt hại đó,ngày 18/12/1944 một trận cuồng phong làm cho 3 tàu khu trục bị chìm,gây những tổn hại nghiêm trọng cho những hàng không mẫu hạm và tuần dương hạm của Mỹ.

Những chàng trai trẻ Kamikazé

Bộ tư lệnh tối cao Nhật lúc đó đã tin tuởng vào hiệu quả đặc biệt của chiến thuật 'bom nguời' và Nhật Hoàng Hiro Hito đọc diễn văn ca ngợi những chàng trai trẻ tuổi đôi mươi đã ra đi 'chết hạnh phúc và tự hào vì hoàng đế và sự chiến thắng'. Số người tự nguyện hi sinh nhiều gấp 10 lần số máy bay mà quân đội Thiên hoàng có.Theo nhà nghiên cứu Maurice Pinguet,những phi công đó biết rằng sớm hay muộn gì họ cũng sẽ hi sinh trong một cuộc chiến không cân sức nên họ đã chọn một cái chết nhanh chóng và có ích hơn.Họ không được hứa hẹn một sự đền đáp nào,một thiên đường nào kể cả niềm tự hào chiến thắng.Trong số những người tình nguyện,có cả những sinh viên;họ được huấn luyện trong một chế độ đặc biệt trong 7 ngày; 2 ngày cho việc cất cánh với một quả bom 250kg; 2 ngày cho việc bay theo đội hình và 3 ngày cho việc tiếp cận mục tiêu và tấn công.
Vào một buổi chiều, nguời chỉ huy truởng căn cứ báo cho họ biết lệnh xuất phát vào sáng hôm sau. Họ chỉ còn có một đêm cuối cùng để viết một bức thư cuối cùng cho cha mẹ.Sáng sớm,sau buổi thuyết trình thuờng lệ,họ có mặt trong những bộ đồ bay,bên sườn lủng lẳng thanh trường kiếm của nguời hiệp sĩ samourai,đầu quấn chiếc băng chéo thêu nổi hình mặt trời mọc.Chỉ huy trưởng căn cứ trao cho mỗi nguời một cốc rượu sake;tất cả nghiêng mình về hướng cung điện của Nhật hoàng truớc khi chạy bổ nhào đến máy bay truớc sự hoan hô nồng nhiệt của các đồng đội còn ở lại.

Giai đoạn khốc liệt của cuộc chiến

Tháng 4/1945,Ðô đốc Matome Ugaki chịu trách nhiệm phối hợp những cuộc tấn công đặc biệt để bảo vệ Okinawa,dã bố trí 700 tàu-cảm tử Shinyo và một số luợng quan trọng phi cơ dậu ở Kyushu,trong đó có hàng ngàn chiếc Zero và oanh tạc cơ Nakajima Ki-115 mang trên mình một quả bom 500kg,có tầm sát thương 1200km. Những máy bay Kamikazé được những máy bay tiêm kích hộ tống bay ở tầm thấp,khi đến gần hạm dội Mỹ,vọt lên dộ cao 4.500m và bổ nhào xuống,nhắm vào lồng cầu thang máy(hàng không mẫu hạm)hay đài chỉ huy(những chiến hạm khác).

Ngày 6/4/1945,355 máy bay cảm tử tham gia một cuộc tấn công và hạm dội Mỹ đã bắn hạ duợc 250 chiếc trước khi chúng dến được mục tiêu.Bù lại,những chiếc Kamikazé còn lại đã loại ra khỏi vòng chiến hàng không mẫu hạm Hancock,đánh đắm 2 tàu vận tải xung kích lớn,làm thiệt hại tàu thiết giáp Maryland và nhiều tàu khu trục.Ngày 12/4/1945,185 chiếc Kamikazé có 135 chiếc tiêm kích di kèm dã mở cuộc tấn công mới nhưng kết quả của lần xuất kích này cũng không đáp ứng được kỳ vọng của các Ðô dốc Nhật.

Những trận chiến khốc liệt ở Okinawa chấm dứt vào ngày 22/6/1945 bằng hình thức seppuku(hara-kiri:mổ bụng tự sát)của 2 đô đốc Nhật Ushijima và Chô,theo truyền thống của nguời Nhật.trong 1900 phi vụ cảm tử, các Kamikazé đã dánh đắm khoảng 30 tàu chiến Mỹ,làm thiệt hại gần 300 chiếc khác, gây tử vong cho 4907 lính hải quân Mỹ. Rõ ràng là những cuộc tấn công dưới hình thức Kamikazé mang lại hiệu quả cao hơn những cuộc tấn công thông thường. Ðô dốc Onischi đã nói về giai đoạn chiến tranh này:'Dù có hiệu quả hay không,những cuộc tấn công đó cũng đủ cho thế giới và cả chúng ta hình ảnh của chủ nghĩa anh hùng,của lòng tự hào và đảm bảo sự tồn tại của di sản tinh thần của chúng ta'.

Ngày 15/8/1945,họ đứng lặng im, đầu cúi xuống, cõi lòng tan nát,lắng nghe Nhật hoàng Hiro Hito đọc tuyên bố đầu hàng.Cũng trong ngày 15/8/1945 đó,Ðô đốc Ugaki,Tư lệnh hạm đội 5 ở Kyushu bay về hướng Okinawa cùng với khoảng 10 phi công cảm tử và trước khi mất hút đã gửi lại thông điệp bày tỏ niềm tin vào sự bất tử của đế chế và tinh thần Kamikazé. Hàng ngàn phi công trở về nhà,bị lãng quên trong thời kỳ hậu chiến trên một đất nước điêu tàn. Nhiều người cảm thấy mình đã bị lừa bịp và lãng phí tuổi thanh xuân.Trong những năm 1946-1948,một số phi công gia nhập Ðảng Cộng Sản, những nguời khác bị khủng hoảng tinh thần. Phải đợi đến năm 1951, nhờ những chuyển biến kỳ diệu của nền Kinh tế Nhật,họ mới hội nhập trở lại với xã hội,hiện diện trong các hãng sản xuất lớn: Sony, Honda, Denzu...và hiện giờ trở thành những nguời hưu trí sống an bình,không muốn nhắc nhiều đến bóng ma của quá khứ.


Mitsubishi A6M5 Zero - kẻ thách thức !


Những chiếc máy bay bạn thấy trong clips trên đã làm nên 1 bình minh Định Mệnh trên bến cảng Trân Châu - sau hơn 60 năm, cái tên ZERO vẫn lởn vởn trong tâm trí người Mỹ, đến nỗi sự cố máy tính năm 2000 được gọi là ZERO day ...Tôi có cảm giác là Quân đội VN thích khai hỏa vào buổi chiều hơn, khi đối phương bắt đầu mệt mỏi và mất cảnh giác. Trái lại người Nhật thì luôn luôn là sáng sớm, có lẽ vì họ mang tên là ĐẤT-NƯỚC-MẶT-TRỜI-MỌC
Điều thú vị là chiếc máy bay cực kỳ lợi hại của Nhật Bản trong WWII lại được biết đến với rất nhiều tên. Với Không Quân Hòang Gia Nhật, nó là 0-52 (Type 0 Carrier Fighter). Đối với Không Quân Mỹ, những người trực tiếp chiến đấu với nó trên bầu trời Thái Bình Dương, nó là Zeke. Và dân Mỹ thì gọi nó là Zero !

-Dù với bất kỳ tên gì, chiếc Zero vẫn là chiến đấu cơ Thần Sầu nhất trong ngày đầu những năm 1940. Điều tuyệt vời là chiếc Zero khá nhẹ... 2,5 tấn (bằng 1/2 chiếc Corsair) cho dù đã chất đầy đủ đồ cho 1 chuyến bay chiến đấu. Vì vậy nó lượn vòng đánh võng cực kỳ nhanh và bổ nhào cũng như xoắn lên cao cũng với tốc độ khủng khiếp.

-Vào thời điểm đầu 1940 khi mà chiếc Zero xuất hiện trên chiến trường, nó có thể qua mặt tất cả các máy bay khác trên tòan thế giới ! Tốc độ, khả năng bay xa, gia tốc lớn, lượn vòng cực nhanh cũng như khả năng điều khiển từ đài không lưu làm cho nó trở thành chiếc máy bay vô địch của Không Quân Nhật !

-Sáu tháng sau trận Trân Châu Cảng, đội bay Sentais của Nhật được trang bị A6M đã làm chủ hòan tòan 20 triệu km2 bầu trời. Hơn 10,000 chiến đấu cơ Reisen (tức Zero) đã được Nhật sản xuất, nặng chỉ bằng 1/2 chiếc Corsair, nguyên nhân là sự thiếu vắng vỏ sắt bảo vệ buồng lái phi công và bình xăng rời! -Được thiết kế để Tấn Công, Zero được tăng cường khả năng lượn vòng đánh võng và hỏa lực mạnh với cái giá đắt của chính sinh mạng phi công. Chính vì thế mà quá nhiều Zero đã bị mất trong chiến đấu. Mặc dầu vậy, khá nhiều phi công Liên Minh cũng tử trận khi nỗ lực tìm những chỗ yếu để hạ chiếc Zero này !

- Một trong những chiến thuật để đối đầu với Zero là phải giữ khỏang cách đủ xa và tấn công bằng cách bổ nhào hay xóay ốc vút lên cao. Bằng cách dùng tốc độ và tránh sai sót khi cố gắng vòng nhanh hơn Zero, sau đó thì quay nòng súng và chỉ 1 phát đạn bắn trúng là đủ làm chiếc Zero bốc cháy.

- Ngay sau khi biết được những "bí mật chết người" của Zero, những máy bay mới như Grumman Hellcat và Vought Corsair đã ra đời, với ước muốn vượt qua Zero mọi phương diện, ngọai trừ khả năng...xoay vòng đánh võng ! Để bù đắp cho khiếm khuyết này, phi công Mỹ chỉ cần ghi nhớ chiến thuật bay khi đối đầu với Zero. Ngay cả với sự ra đời của những máy bay mới Misubishi Zero Model 22, chúng vẫn dễ dàng bị quét văng ra khỏi bầu trời bởi phi công Mỹ. So với tỷ lệ bắn hạ US 1: Japan 1 trước đây, những cải tiến của phía Mỹ đã làm cho tỷ lệ lên đến US 10 : Japan 1 chỉ sau một thời gian ngắn !

-Qua suốt thời gian WWII, chiếc Zero, dù đã từng làm chủ bầu trời Thái Bình Dương một thời gian dài, đã phải nhường chỗ cho những máy bay hiện đại hơn của Mỹ & Liên Quân. Tuy vậy, nó vẫn được dùng để Đâm Bổ Tự Sát (kamikaze), một lọai hình chiến đấu gây khá nhiều tổn thất cho phía Mỹ và Liên Quân - lúc này, những cánh bay Japan Kiêu Hãnh và Dũng Cảm đã trở nên Liều Lĩnh vì Cuồng Tín. Với những chiếc Zero chất đầy thuốc nổ và điều khiển bởi những phi công sẵn sàng hy sinh vì Nhật Hòang, chúng trở thành những quả bom biết bay nhằm thẳng vào tàu chiến Mỹ. Khỏang 2,200 chiếc đã được sử dụng để tấn công kiểu này cho đến khi Nhật đầu hàng.

-chiếc Zero của Nhật xứng đáng xếp ngang hàng với Spitfire, Vought Corsair Mustang như những chiếc chiến đấu cơ lừng danh của WWII. - adm


Were leaving together,

But still its farewell
And maybe well come back,
To earth, who can tell?
I guess there is no one to blame
Were leaving ground
Will things ever be the same again?

Its the final countdown...

Were heading for venus and still we stand tall
Cause maybe theyve seen us and welcome us all
With so many light years to go and things to be found
Im sure that well all miss her so.

PHẦN 1 : Hard Rock/Heavy Metal
HEAVY METAL bắt đầu từ bao giờ thật là một điều không dễ trả lời ngay. Theo hầu hết các niên sử của dòng nhạc metal, sự bộc phát đầu tiên đến từ ban nhạc THE KINKS (63) tại Luân đôn với bài "You really got me" và ban nhạc THE WHO (64) với bài "My Generation". Nhạc sĩ chơi thể loại Heavy Metal đầu tiên mà ai cũng đồng ý là Alice Cooper với ban nhạc THE SPIDERS hình thành năm 1965 . Tuy nhiên, cho đến năm 1967, Heavy Metal vẫn chưa được diễn đạt trung thực và cái tên Alice Cooper mới được in đậm trong trí nhớ của thế giới mãi đến năm 1971 qua đĩa nhạc "Love it to death".

Trong năm 1967, thế giới nhạc ROCK vẫn đắm chìm với phong trào hippies Summer Of Love, một mùa hội diễn âm nhạc và là một bằng chứng của một cuộc cách mạng âm nhạc quan trọng với sự xuất hiện hầu như đồng loạt của các ban nhạc sau đây trong những năm 1966-1970:

GOLDEN EARING, CREAM, THE JIMI HENDRIX EXPERIENCE, LED ZEPPELIN, VANILLA FUDGE, IRON BUTTERFLY, STEPPENWOLF, BLUE CHEER, DEEP PURPLE, GRAND FUNK RAILROAD, FREE, URIAH HEEP, MOUNTAIN, HUMBLE PIE, BLOODROCK, MC5, BLACK WIDOW, ATOMIC ROOTSTER, CACTUS và BLACK SABBATH.

Họ đã gây cho thế giới một ấn tượng về Heavy Metal mà ngay ban đầu 2 ban nhạc IRON BUTTERFLY(66) và STEPPENWOLFF(67) đã làm. Thứ nhất là việc điểm lại các dĩa nhạc đã hình thành; thứ hai, dựa vào câu "Heavy Metal thunder" trong bài kinh điển nổi tiếng "Born To Be Wild". Và thế là một loại nhạc mới, có nguồn gốc từ ROCK & ROLL và BLUES đã chiếm được ảnh hưởng vào thế hệ trẻ thời ấy sau khi đã mệt mỏi với những phần trình diễn chậm chạp, uể oải của những ban nhạc chơi trong thời kỳ Summer Of Love.

Trong những ban nhạc mới ra, CREAM(66) và JIMI HENDRIX EXPERIENCE (67) là những ban nhạc đầu tiên mang đến cho dòng nhạc Heavy Metal lợi nhuận cao. Ẻic Clapton là một nhạc sĩ kỳ tài của ban nhạc CREAM cùng với tài năng của 2 thành viên khác đã tặng cho người nghe những bản nhạc đi vào huyền thọai như “Sunshine Of Your Love” và “White Room”. Chỉ trong vòng 2 năm và qua 4 tập dĩa, CREAM đã trở thành ban nhạc thành công nổi bật có ảnh hưởng như RUSH và VAN HALEN. Khi ban nhạc tan rã, Eric Clapton đã cùng với Ginger Baker lập ngay một ban nhạc mới là BLIND FAITH. Trong khi đó, JIMI HENDRIX EXPERIENCE cũng là một nhóm tam tấu mà nền nhạc của họ chủ yếu dựa trên những thủ thuật đánh đàn ghi-ta tài tình của Jimi Hendrix. Các tập dĩa như "Are you experienced" và "Electric Ladyland" đã lôi cuốn hàng nghìn người hâm mộ đang lên cơn đói nhạc. Họ ngấu nghiến thỏa thuê những âm điệu đó qua ban nhạc vừa kể tên mà trong thời đó vẫn thường được nhắc đến đồng thời với JANIS JOPLIN (69) và THE DOORS, những thành phần vô tử của nhạc Rock trên thế giới.

Trong số nhiều ban nhạc mới ra đời trong thời gian này có SAVOY BROWN, FOGHAT và BAD COMPANY chuyên chơi điệu "blue", BUDGIE với âm thanh sống động nẩy lửa cũng như UFO đã được sinh ra trong sự phát triển bùng nổ của Heavy Metal. Những ban nhạc khác như STATUS QUO xuất hiện từ năm 67 cũng thay đổi tiếng đàn sao cho hợp với thời “sắt thép”. Năm 1973 các ông vua Heavy Metal mới thực sự chiếm lĩnh thế giới âm nhạc, đó là các ban LED ZEPPELIN, DEEP PURPLE và BLACK SABBATH.

Hình tượng Sa-tăng đến từ 2 ban nhạc Anh vừa kể trên: Black Sabbath và Led Zeppelin. Cá nhân Jimmy Page (trước kia chơi trong ban nhạc THE YARDBIRDS cùng với Jeff Beck và Eric Clapton) nay là nhạc sĩ chơi ghi-ta của Led Zeppelin có vẻ được lôi cuốn đặc biệt về sự huyền bí này trong khi các lời nhạc của Sabbath chứa đựng chủ đề này nhiều hơn. Tuy thế, ban nhạc này không tự xưng là thuộc hạ của Sa-tăng; không giống như các ban nhạc metal sau này. Chính Ozzy Osbourne, ca sĩ của Sabbath, đã có khi than phiền vì hoảng sợ trước những "fan" mặc đồ đen, trên tay là những ngọn nến!

Kể đến những lần trình diễn ngòai trời của nhiều ban nhạc, đáng chú ý nhất là Led Zeppelin với phần "rock till you drop" (rock cho đến gục ngã) kéo dài khoảng 2 tiếng và các buổi trình diễn vĩ đại của Alice Cooper, nổi tiếng với nét đặc biệt của con trăn quấn cổ, những màn xẻ, cắt đôi, bẻ đầu các người mẫu giả mà ngay cả chính anh ta cũng tham dự! Hầu hết các ban nhạc đều lên sân khấu, mang những tác động âm thanh “vĩ đại hơn cả cuộc sống” vào phần trình diễn của mình trước một rừng người nóng hực như biển lửa.

Những năm đầu ít ỏi của Heavy Metal (vì tính chất tiền phong nên được mệnh danh là CLASSIC METAL sau này) được xem như là một thời đại tuyệt diệu nhất của dòng nhạc. Không có gì để nghi ngờ đấy là một đoạn đường đáng nhớ nhất của lịch sử âm nhạc. Heavy Metal trở lại khi Led Zeppelin, ban nhạc nổi tiếng nhất về loại nhạc này, đã sáng tác những bài kinh điển như "Black Dog" và “Kashmir” năm 75 và cũng khá sáng chói trong việc thử nghiệm các loại nhạc khác như REGGAE và FOLK. Thực tế thì bài sau đây đã được công nhận đóng một vai trò thành công lớn cho Heavy Metal: "Stairway to heaven" qua kỹ thuật sáng tác tuyệt hảo của Page và Robert Plant mà cho đến ngày nay vẫn được phát thường xuyên qua các làn sóng điện.

Tuy nhiên, phải nói là cho đến năm 1970, ban nhạc BLACK SABBATH mới gọi là đã tấn phong cho Heavy Metal một "linh hồn" thực sự. Ảm đạm, u sầu, âm thanh hệt như đang giã nát với chiếc cối xay, như là muốn báo trước một điềm gỡ nào, các tập dĩa "Black Sabbath", "Paranoid" và "Master of Reality" đã bày tỏ một loại nhạc mang đầy chất tinh quái qua ngón đàn của Tonny Iommi và sự trình diễn của Ozzy Osbourne, Bill Ward và Geezer Butler với các bài kinh điển như "N.I.B.", "Paranoid" và "Children of the Grave". Các ban nhạc như CORROSION OF CONFORMITY, METALLICA và NIRVANA đều có ảnh hưởng của loại nhạc metal này. Bộ mặt của lọai nhạc mới hầu như không bao giờ có thể giống như thế từ khi ban nhạc gốc Birmingham này ra đời. Trong khi đó, Deep Purple, sau một thời gian miệt mài với thể loại Progressive Rock cùng với Rod Evans và Nick Simper, đã xây dựng được một phiến đá vững chắc cho nền nhạc rock qua đĩa "Deep Purple In Rock" (70) và đã trở thành một sứ giả thực sự trong việc cải cách âm nhạc. Thực sự là với các ngón đàn của Ritchie Blackmore hòa nhịp với tiếng đàn synthesizer của Jon Lord và tiếng gào thét chói tai của Ian Gillain đã là phần quyết định chủ yếu cho việc phát triển Heavy Metal ngày nay.

Trong những năm giữa thập niên 60, có 6 ban nhạc mới xuất hiện dưới ánh đèn mầu: THE BLUE OYSTER CULT, THIN LIZZY, JUDAS PRIEST, QUEEN, AEROSMITH và KISS. Có thể nói rằng ban nhạc Judas Priest là tiền phong trong việc truyền bá sáng kiến đưa 2 tay đàn guitars vào ban nhạc Heavy Metal; Aerosmith thì mang lại cho thính giả điệu blues buồn, tình dục và ma túy; Thin Lizzy chơi nhạc dưới ánh sáng tân kỳ lấp lóe với điệu nhạc; Queen giới thiệu cho ta một trình độ có thể cho là cao cấp trong việc thử nghiệm trong âm nhạc cũng như đổi mới những giai điệu, tiết tấu hùng hồn cùng với tính chất kiêu kỳ của Progressive rock. Ban nhạc Kiss cách mạng hóa những buổi trình diễn rùng rợn gợi lại trong ký ức khán giả về Alice Cooper. Còn ban nhạc Blue Oyster Cult thì sao? Họ đã biến mất trong sự lãng quên sau một lọat các tập đĩa phát hành trong những năm 80. Nhưng trong những năm 70 êm đềm trôi qua của Blue Oyster Cult, ban nhạc này đã trở thành một phần quan trọng của vũ đài HARD ROCK vì đã phối hợp thật tuyệt vời các giai điệu nhạc của thập niên 60 và tiếng đàn ghi ta khô, thô ráp của họ.

Trong khi một số các ban nhạc chuyên lo củng cố danh tiếng của mình là những tài danh vĩ đại của dòng nhạc rock, các ban nhạc khác đã bắt đầu biến chế loại nhạc mới Progressive rock qua một hướng khó khăn hơn. PINK FLOYD và GENESIS hầu như vẫn đứng ngòai vương quốc của Heavy Metal, trong khi các ban nhạc JETHRO TULL, YES và KING CRIMSON đã làm quen với Heavy Metal nhiều hơn qua những bài như "Aqualung", "Heart of the Sunrise" hoặc "21st Century Schizoid Man" một cách tương ứng. Được tiêu biểu bởi các kết cấu nhạc phức tạp, phần soạn nhạc khác thường và cách sử dụng nhạc cụ điện tử cao cấp, lọai nhạc Progressive metal chắc có lẽ không bao giờ trở thành hiện thực nếu không có ban nhạc RUSH ra đời. Với album đầu tiên của Rush, tuy lúc ấy chưa được gọi là Progressive, nhưng trong thời gian thâu âm dĩa "Fly By Night" (75) và thành công của tay trống Neil Peart, ban nhạc đã thay đổi vị trí và tỏ niềm khát vọng hơn qua lời nhạc và giai điệu, đưa chất Progressive cho đến biên giới xa nhất qua các dĩa như "A Farewell to Kings" và "Hemispheres". Nhiều ban nhạc Progressive khác như EMERSON, LAKE AND PALMER; FOCUS; ASIA, IQ và MARILLION chỉ làm quen sơ sài với Metal trong suốt thời gian hiện diện của họ.

Thật là đáng tiếc, Heavy Metal đã bị đình trệ hoàn toàn trong cuối thập niên 70. Aerosmith, Thin Lizzy và Black Sabbath bị chìm đắm trong ngục tù của ma túy, Kiss đánh mất vẻ đẹp của âm nhạc qua việc thương nghiệp hóa quá độ, Deeep Purple bị phai nhòa vì việc lo toan thay đổi nhân sự, Led Zeppelin chấm dứt sự nghiệp qua cái chết của tay trống John Bonham; chỉ còn Judas Priest và Queen là đứng vững trong thời gian này. Không chỉ là những ban nhạc có tiếng biến mất dần dần mà vài ban nhạc mới cũng chỉ lóe lên một thời gian ngắn rồi tắt; người ta nói Metal đang nằm ngắc ngỏai trên giường bịnh. Tuy thế, một vài ban nhạc nhỏ nhoi vẫn phát đạt trong kỳ đổ nát này, trong đó phải kể đến AC/DC với tay đàn Angus Young nghiêng ngả đảo điên trên sân khấu và RUSH với giọng rít thất thanh như tiếng động cơ máy bay của Bon Scott. Ted Nugent, thành viên cũ của ban nhạc AMBOY DUKES, đã viết nên những tác phẩm quý giá như “Cat Scratch Fever” và “Double Live Gonzo” trong những năm chót thời 80. Nhóm của anh vì thế đã là một trong những ban nhạc sáng giá nhất còn lại. Dĩa “Ritchie Blackmore´s Rainbow” lại là một album sau cùng hòa nhịp với sự ra đi của thập niên 80 như bước chân của Ronnie James Dio rời khỏi ban nhạc trong sự xao động của bản thân mà anh đã cảm hứng hòan thành qua đĩa “Rainbow Rising” và “Long Live Rock´n´Roll”.
PHẦN 2 : Punk

Nếu gọi Metal là anh cả thì PUNK chính là cậu em trai đã kịp thời cứu nguy cho tấm phông Rock trên sân khấu không bị hạ xuống vĩnh viễn. Một số lượng ban nhạc mới không nhỏ đã xuất hiện, dùng âm nhạc để chống đối chủ nghĩa, chính quyền cũng như những gì đang xảy ra trong cuộc sống. Họ mang lên sân khấu những bài hát nhuộm thẫm sự giận dữ điên cuồng mà thanh niên thời đó gọi là chính đáng. Phong trào nổi lên rầm rộ suốt thời 60 cho đến đầu những năm 70 với những ban nhạc Punk đầu tiên là IGGY & THE STOOGES, MC5 và THE NEW YORK DOLLS. Các ban nhạc của Mỹ và Anh theo sau đã gây cuồng phong trên thế giới phải kể đến là THE SEX PISTOLS, THE RAMONES, THE CLASH, THE DAMNED, SIOUXSIE AND THE BANSHEES cũng như nhiều ban ít tiếng tăm hơn đã góp gió thành bão là THE PAGANS, DEAD BOYS, UK SUBS, THE MISFITS, CRASS, THE EXPLOITED, AMNEBIX và PLASMATICS. Sự đóng góp lớn nhất của Punk vào sân khấu Punk/Heavy Metal có thể là lối nhảy "slamdancing" phổ biến, sự phục hưng một âm thanh đầy sinh lực và sự tuyên truyền rộng rãi chống lại những hành vi sai trái của xã hội (như một tiếng vang lại các ca khúc của Black Sabbath chứa đựng trong những bài như "Children of the Grave" và "War Pigs").

3 ban nhạc Punk quan trọng nhất đáng nhấn mạnh một lần nữa là IGGY & THE STOOGES, THE RAMONES và THE SEX PISTOLS. Các thành viên trong ban nhạc với Iggy Pop không thiếu sót một điều gì trong việc làm kinh ngạc khán thính giả vì sự cuồng nhiệt quá độ của họ, đến nỗi chính Iggy Pop cũng phải công nhận rằng họ chỉ chịu đựng nhiều lắm là 15 phút qua phần gào thét cuồng dại của Iggy. Ban nhạc của New York là THE RAMONES có những bài hát khinh suất, táo bạo không ngờ, gây ấn tượng và ảnh hưởng mạnh cho các ban nhạc sau này như THE RED HOT CHILI PEPPERS và NIRVANA. THE SEX PISTOLS đáng được gọi là ban nhạc PUNKROCK trứ danh nhất trong mọi thời đại. Các sáng tác của họ nổi tiếng với những lời chỉ trích như trong bài "God Save The Quen" hoặc “Anarchy In The UK”. Tuy nhiên, qua lần trình diễn tại Mỹ năm 1978, ban nhạc này đã tự diệt thanh danh khi tay đánh bass Sid Vicious bị tố cáo đã giết người yêu là cô Nancy Spunge và sau đó đã tự tử trong một cơn say ma túy. Sự kiện này đã đưa Vicious vào danh sách các "liệt sĩ" đáng hổ thẹn của dòng Punk, Sex Pistols tan rã, Punk- Rock bắt đầu suy thoái và chỉ còn hoạt động phần lớn lặng lẽ cho đến thập niên 90.

Trong khi Punk quyến rũ được số lượng lớn thanh niên, một ban nhạc cuồng nhiệt khác cũng đã bắt đầu tác động vào giới trẻ, đó là MOTÖRHEAD. Ban này được biểu thị cho sự bắt đầu của những thể lọai Thrash/Speed/Power Metal và sau này biến thể thành thể loạiDeath Metal. Từ đĩa phát hành đầu tiên của Motörhead năm 1976 là “On Parole” họ đã biểu lộ rõ tiềm năng không hề vay mượn của mình trong những đĩa phát hành những năm cuối của thập niên 70 và đầu 80 như là “Overkill”, “Bomber”, “Ace of Spades” và “No Sleep 'Til Hammersmith”. Những cống hiến này thực sự là đòn bẫy cho Metal Song nói chung. Hơn nữa, Motörhead không những đã thu hút nhóm nghe nhạc Metal một cách ngạc nhiên lý thú mà còn hấp dẫn cả các fan Punk bốc lửa và vì thế đã đánh dấu một sự khơi mào cho một biến thể khác gọi là Hardcore.

PHẦN 3 : New Wave of British Heavy Metal - POP METAL

Trong khi Punk đang làm rung chuyển nền tảng của Rock & Roll thì Heavy Metal trở lại với JUDAS PRIEST, SCORPIONS, ACCEPT và phong trào đột phát ngắn ngủi New Wave of British Heavy Metal (NWOBHM). Cao trào có tính chất trọng đại này phát xuất từ Anh quốc với các ban nhạc được hồ hởi đón chào như DIAMOND HEAD, DEF LEPPARD, HOLOCAUST, IRON MAIDEN, SAXON, SAMSON, TYGERS OF PAN TANG, VENOM, RAVEN và SWEET SAVAGE. Trong những ban nhạc vừa kể chỉ có IRON MAIDEN và DEF LEPPARD tồn tại lâu dài; SAXON thành công cực kỳ nhưng chỉ trong một giai đọan thật ngắn. JUDAS PRIEST muốn đại chúng hóa các sản phẩm đồ da, giầy ống, đinh đóng làm biểu tượng cho nhạc Metal; SCORPIONS thì biểu dương tài năng qua một loạt các đĩa thành công rực rỡ như “Virgin Killer”, “Lovedrive” và “Blackout” với cả hai sở trường đồng thời là Ballad và Heavy. Ban nhạc ACCEPT đã chứng tỏ tài năng vững vàng của họ và thể loại Proto-Power Metal qua các đĩa như “Breaker” và “Restless and Wild”.

Cùng thời gian đó, IRON MAIDEN đã mang lại hình ảnh huyền thoại của Heavy Metal qua các đoạn riff mạnh bạo trong các album như “Killers”, “Piece of Mind”, “Powerslave” và giữ vững thế đứng trong làng nhạc Hard Rock nhiều năm cho tới khi METALLICA xuất hiện. Trong khi tiếng bass của Iron Maiden trình bày vẫn ầm ầm như sấm (cộng với các đoạn riff là một sự phối hợp thường gọi là Classic Metal), ban nhạc VENOM đã giới thiệu một thể loại mới khác là Thrash Metal trong các đĩa “Black Metal” và “Welcome to Hell”. Có thể nói đó là nền tảng của thể nhạc Death và Black metal sau này. Trước đó, ban nhạc VENOM chỉ là một nhóm chơi nhạc không chính thức với tên gọi là Oberon, nay đã trở thành một ban nhạc cực mạnh trong thời kỳ này, cùng với MOTÖRHEAD, STAINED CLASS và RIOT với âm thanh mạnh mẽ khác thường đã truyền cảm hứng cho các ban nhạc mới nổi như METALLICA, EXODUS, SLAYER và MANTAS (sau này là DEATH). Những ban nhạc này đạt tới một lối chơi riêng biệt thật sinh động và tốc độ thật nhanh.

Vai trò của New Wave of British Heavy Metal tuy hiện hữu không bao lâu cũng đã được đánh giá cao hơn là việc kích thích được sự phục hưng thể loại Heavy Metal tại Anh quốc. Nó đã mang lại sức sống cho tuổi trẻ sẵn tràn đầy sinh lực, một sự sáng tạo phong phú không ngừng cho âm nhạc, tạo ra một sức truyền cảm mãnh liệt, một con đường cho Heavy Metal tiến hóa suốt thập niên 80. Với các ban nhạc sử dụng riff là cơ bản như JAGUAR, WITCHFYNDE kiểu cách, DIAMOND HEAD tài nghệ không lường, ANGEL WITCH tiềm tàng đầy năng lực, WITCHFINDER GENERAL với âm thanh nặng trĩu cùng xuất hiện trong thời kỳ này đã báo hiệu một vị trí vững chắc của Heavy Metal và đảm bảo sự tiến triển không ngừng của nó trong thế giới âm nhạc.

Tại Mỹ, cũng trong thập niên 80, thể loại Pop/Glam Metal đã bùng nổ biểu hiện như một sự trả miếng cho sự kiện vừa nói trên. VAN HALEN có mặt từ năm 1978, đã gầy dựng được một ban nhạc chuyên chơi ngoài trời tại các sân vận động, làm mê đắm thế giới qua tiếng đàn phù thuỷ của Eddie Van Halen và những màn trình diễn cuồng nhiệt của David Lee Roth. Ban nhạc JOURNEY nổi tiếng với tiếng đàn keyboard đã bán hàng triệu dĩa kể từ khi ra đời năm 1972. Các ban như ANGEL và FOREIGNER bắt đầu thâm nhập làng nhạc metal trong khi MONTROSE đã vững chân đi vào huyền thoại. Thực sự các fan đã trông đợi và hài lòng với sự xuất hiện của MOTLEY CRUE và RATT xuất thân từ Los Angeles với những bản nhạc lôi cuốn qua những tiếng đàn ngọt dịu mang âm hưởng của các ban cựu trào Anh quốc như SWEET và T-REX. Ngoài ra, 2 ban nhạc Mỹ quốc này còn gợi đậm trong trí nhớ của khán thính giả hình ảnh không phai nhòa của ALICE COOPER, DAVID BOWIE, NEW YORK DOLLS, KISS và GARY GlLITTER. Nhưng trong số đó cũng có những ban nhạc Glam Metal lại tỏ ra quá hào hứng đến độ cái gì cũng đeo lên người, ngoài quần áo da còn có lưới đánh cá, băng quấn ngang trán, đế giày đầy đinh nhọn, kể cả trang sức phụ nữ (!) và phấn son loè loẹt. MOTLEY CRUE có lẽ là một trong những ban ngự trị trên đỉnh cao âm nhạc thể loại Pop Metal thời 80 mà năm 83 đã gây một thành tích vẻ vang cho phong trào Metal Los Angeles qua đĩa "Shout At The Devil". Sự thành công này đã mang Heavy Metal hoàn toàn trở lại trên thương trường đồng thời gián tiếp giúp đỡ cho ban nhạc RATT đã bị đẩy lùi vào bóng tối và TWISTED SISTER cũng như QUIET RIOT cũ kỹ trở về với vị trí sáng ngời của họ. Những bài "Round and round", "We're Not Gonna Take It" và "Cum On Feel the Noize" đã đưa đến thành công cho các ban nhạc đến khắp thế giới và có ai ngờ, đã lót đường cho một hiện tượng mới ra đời: BON JOVI.
Bon Jovi (83) thành công chỉ kém DEF LEPPARD (77) một hạng, đã bán hàng triệu đĩa nhạc này sang hàng triệu đĩa khác, nghĩa là đã sáng tác hết "top ballad" này đến "hit ballad" khác liên tục không ngừng. Đĩa "Slippery When Wet" và "New Jersey" của Bon Jovi đã gây sóng gió trở lại thế giới như DEF LEPPARD khi xưa với đĩa "Pyromania" và "Hysteria". Hai ban nhạc này đã thành công trong việc hòa hợp vị thô chát, chói tai của Metal với tính quyến rũ của âm thanh nhạc Pop tạo nên được một âm sắc hoàn hảo cho giới trẻ đang nghiền nhạc trên MTV thời ấy (dù nhiều ý kiến cho rằng Bon Jovi không phải thực sự là Metal). Trong khi đó, MOTLEY CRUE và RATT đã sáng tạo một phong cách riêng cho nhạc của họ được chứng minh qua tất cả đĩa được phát hành và đạt được thành công rất lâu dài. Điều ấy được ví như là bóng tối của Pop Metal cho dù họ chỉ làm mờ nhạt được những ban nhạc nào không chứng tỏ rõ ràng được thực lực ngang tài. Các ban nhạc như KIX, FASTER P U S S Y CAT và L.A. GUNS không hưởng được một chút vẻ vang nào tuy đã phô trương lực lượng hết mình; trong khi KISS vẫn chứng tỏ được phong cách Pop Metal của họ như trong bài "Heaven's On Fire". Sau đó trong một thời gian dài, phong trào Pop Metal đã làm nhạt nhòa tiếng tăm của các ban nhạc có khuynh hướng và mang chút ít âm hưởng cổ điển như THUNDER, G.U.N và JUNKYARD. Kể cả THE CULT và JACKYL nổi lên đây đó như đang bềnh bồng trên mặt nước…

Tuy thế, Pop Metal dần dà trở nên quá "bình dân" và "hào nhoáng" quá độ nên cần một sức sống mới. Trong khi chính WHITESNAKE (77) là một ban nhạc Glam Metal bền vững từ thời 70 cũng dần dần cô đọng lại sự hiện hữu của mình và tàn lụi dần, người ta đếm lại trên đầu ngón tay và chỉ còn thấy BON JOVI, DEF LEPPARD và MOTLEY CRUE vẫn sống. Cục diện sân khấu bấy giờ cần một sự xuất hiện mới của một nhóm nào đó mà vẻ bóng loáng bề ngoài và sự dễ dãi quá độ là một điều không cần thiết, một ban nhạc nào đó chỉ cần nhô ra từ những con phố tối tăm và nhớp nhúa thôi. Và đó là GUNS n´ ROSES!
GUNS n´ ROSES là những gì mà Pop Metal đang khao khát chờ đợi. Đĩa "Appetite for Destruction" năm 87 là một loại sắt nung cháy bỏng, khô, chai cứng qua tiếng đàn ghi-ta của Shash đượm đầy nét blues và giọng ca của Axl Rose cất lên như cả thân người chỉ muốn treo tạm lên cây hoặc bám víu sơ sài vào cuộc đời này. Họ chen vào giữa ánh đèn sân khấu của các ban nhạc như HANOI ROCKS, THE ROLLING STONES và AEROSMITH với những bài như "Welcome to the Jungle", "Night Train" và "My Michelle" hoặc bài "Sweet Child O' Mine" thật là êm dịu. GUNS n´ ROSES đã vực lại được sự chú ý của thính giả và cứu nguy cho Pop Metal đang gần như bị dập tắt trên thương trường. Họ đã song song với MOTLEY CRUE làm chủ sân khấu trong khi DEF LEPPARD và BON JOVI đang tận hưởng sự nghỉ ngơi của mình rất dài lâu.

Sự xuất hiện của GUNS n´ ROSES không ngăn chặn các ban nhạc khác cùng đến. POISON và WARRANT là một trong những ban nhạc đáng kể trong số đó, mặc dù họ chẳng có gì hoàn toàn mới trong các sáng tác mà phải gọi là bình thường và dễ thuộc lòng, nhưng chính vì cách trang điểm và phục trang rực rỡ của họ đã gây chú ý và được phê bình rất kỹ. WHITE LION (83) cũng là một ban nhạc Pop Metal với các ca khúc hơi nhàm chán vì lập đi lập lại, tuy thế cũng có những bài gây xúc cảm mãnh liệt như là "Lights and Thunder", "If My Mind Is Evil" và "Leave Me Alone". Trong khi đó, người ta được thưởng thức một âm thanh dịu dàng của CINDERELLA qua một chuỗi những đĩa nhạc phát hành đều đặn, kể cả TESLA (85) cũng chơi nhạc giống như vậy. Tại Đức phải kể đến ban nhạc DOKKEN tràn đầy kinh nghiệm với tay ghi-ta George Lynch cùng với nghệ thuật trình tấu sống động cao độ mà ta không quên qua bài "Alone Again" chỉ chịu xếp sau bài "The Final Countdown" của EUROPE xuất thân từ Thuỵ Điển. Các ban nhạc như STRYPER, WINGER, GREAT WHITE, Mr. BIG, BAD ENGLISH, DAMN YANKEES và SLAUGHTER cũng góp phần hiện diện quan trọng trong vũ đài này. Nhất định không quên phải kể đến là ban nhạc SKID ROW với thành phần ban nhạc thay đổi như một trò mạo hiểm táo bạo sau sự thành công rực rỡ của đĩa nhạc đầu tay mang cùng tên ban nhạc.
Pop Metal còn đa dạng, mềm mại hơn khi các ban nhạc nữ bắt đầu xuất hiện nối tiếp sự nghiệp của THE RUNAWAYS (75) và GIRLSCHOOL (trong phong trào New Wave of British Heavy Metal). Danh tiếng của họ đã tạo dựng một chỗ đứng vững vàng cho phụ nữ trên sân khấu nhạc Rock. Cô ca sĩ kiêm nhạc sĩ ghi-ta Joan Jett và ban nhạc THE BLACKHEARTS thể hiện đầy sức hấp dẫn trong bài "I love Rock n' Roll", trong khi đó LITA FORD quyến rũ mọi trái tim qua bài "Kiss Me Deadly". Hai thành viên cũ của ban nhạc THE RUNAWAYS không còn nổi tiếng nữa nhưng họ đã cùng với cô ca sĩ Doro Pesch trong ban nhạc WARLOCK (83) tạo được một ảnh hưởng của mình cho nhiều ban nhạc nữ khác như VIXEN mượt mà nhung lụa, L7 với phong cách mới, PHANTOM BLUE (87) huyền ảo và DRAIN S.T.H. (97) với thể điệu đầy ảm đạm.

Ở một nơi khác trong dòng nhạc Rock nghe như đã vang lên âm thanh có phần "nặng" và chất chứa nhiều tính chất “truyền thống” hơn qua những ban nhạc đã tạo nên những huyền thoại trong suốt thập niên 80. Đó là BLACK SABBATH và Ronnie James Dio đã xuất hiện trở lại với dĩa "Heaven & Hell" và "The Mob Rules". Cả hai đĩa được đón nhận nhiệt liệt này cho thấy một thay đổi trong giai điệu du dương hơn cũng như thể loại trình bày. Trong khi đó, Ozzy Osbourne sau khi rời Black Sabbath đã hiến dâng cho những người ham mộ nồng nhiệt của mình những giai điệu không quên như trong dĩa "Blizzard of Ozz", "Diary of a Madman" qua tay đàn mạnh bạo nhưng tuyệt vời của Randy Rhoads. Sự huy hoàng của Heavy Metal còn phải dành một ngôi cho những ban nhạc mới xuất hiện như SAVATAGE, “những ông hoàng sắt” MANOWAR, CIRITH UNGOL và ARMORED SAINT với phong cách riêng của họ. Nhiều ban nhạc lừng danh của thời 70 cũng đã trở lại với nhiều mức độ thành công khác nhau, nhưng không tạo ra được một sự xuất hiện đồng bộ của nền nhạc metal tiền phong, phần lớn bởi vì họ đã đánh mất chất nhạc nguyên thủy của mình hay là chính những cảm xúc mạnh mẽ ban đầu nay không tìm lại được.

Phần 4 : THRASH và POWER METAL

Trong khi Pop Metal bao trùm khắp nơi, các fan của MOTÖRHEAD và VENOM tỏ ra hoang mang khi nhận thấy Metal đã trở nên ngày càng "nhẹ" hơn. Điều đó cũng có nghĩa là đã để cho Pop Metal tiến dần vào dòng nhạc chính. Nhưng họ đã yên tâm nhanh chóng trở lại khi nghe làn âm thanh Thrash/Speed/Power metal trổi lên; dẫn đầu là ban nhạc METALLICA (81). (Power Metal đôi khi được tách rời ra nhóm thể loại này vì đặc điểm "epic" -sử thi- của bài nhạc). Metallica bắt đầu sử dụng kết hợp những đoạn riff phức tạp, giọng ca hệt như đang gầm gừ và dàn trống có hai bàn đạp để tạo ra một âm thanh kiên quyết và hung bạo mà vì thế không được chương trình phát hình MTV cũng như các đài phát thanh ủng hộ. Sau đó một thời gian ngắn, sự phát triển rất mạnh của MERCYFUL FATE và EXODUS (một ban nhạc Thrash Metal quan trọng của vùng Bay Area San Francisco) đã cùng với Metallica hội tụ các fan nghe nhạc "hard metal" lại gần nhau hơn.

Trong thời điểm này, có 3 ban nhạc khác cũng song hành với Metallica là MEGADETH, ANTHRAX và SLAYER. Megadeth được thành lập bởi Dave Mustaine (trước đàn trong ban Metallica) đã tạo ra một âm thanh mà sau này được mệnh danh là Techno-Thrash. Đặc điểm của lối chơi này là thay đổi nhiều nhịp điệu và các đoạn riff cực kỳ phức tạp làm nền cho giọng hát như “gầm gừ” của Mustaine. Trong khi đó, Anthrax chuyên chơi các đoạn riff như đánh tới tấp và thử nghiệm thể loại Rap. Slayer mạnh bạo hơn với những cú riff đập thật mạnh trong khi các thành viên khác khai thác triệt để cái gọi là "hình tượng Sa-tăng". Ban nhạc SUICIDAL TENDENCIES cũng đạt được mức độ thành công đáng kể với đĩa "Lights…Camera…Revolution" kết hợp chặt chẽ ảnh hưởng của thể loại Punk, Alternative, Rap với giọng ca như đang dạo chơi lang thang của Mike Muir. Nếu kể đến TESTAMENT, phải nhắc đến thời giữa những năm 80, họ đã thành công vang dội qua những đĩa như "Pratice What You Preach" và ngay cả đĩa "Souls of Black" dù không thỏa mãn yêu cầu của các fan hoàn toàn. Phải nhấn mạnh thêm, Testament đã được mệnh danh là 1 trong 4 ban gọi là "Big Four" (Tứ Trụ) của thể loại Thrash trước khi Slayer vượt qua mặt với tuyệt phẩm mà ai cũng cho rằng là một trong những đĩa nhạc Thrash hung bạo nhất đến nay: "Reign In Blood" (86).

Toàn bộ phông cảnh này sẽ bị hạ xuống từ lâu nếu không có sự ủng hộ của cả một hậu trường kỹ thuật vĩ đại mà các bài thử nghiệm (demo) và thu âm chính (record) được nhanh chóng trao đổi cũng như được phân phối khắp toàn thế giới. Các ban nhạc như EXCITER, OVERKILL, NUCLEAR ASSAULT, DARK ANGEL và một số ban khác tuy không nổi tiếng rầm rộ nhưng cũng được biết đến qua thể loại Thrash này đã tạo được sự phát triển của phong trào một cách mạnh mẽ. Thêm vào đó, ngoài các ban nhạc chiếm chủ lực trong vùng San Francisco Bay Area nói trên, nước Đức đã bồi dưỡng cho sự nhiệt tình sôi nổi toàn diện trên thế giới được gọi là quan trọng nhất trong bức màn Thrash Metal này với sự ra đời của những ban nhạc như DESTRUCTION, KREATOR, TANKARD và SODOM. Sự cung cấp tài năng cho phong trào này giống như là tiêm thêm một liều thuốc vào sự kiện mà thời đó được gọi là "Teutonic Thrash" (teutonic = thuộc chủng tộc Đức). Nhưng tóm lại, mặc dù thế, Thrash Metal vẫn chưa đạt được tuyệt đỉnh huy hoàng mà nó đang cố gắng phấn đấu…

Cuối cùng, năm 1986, Thrash Metal mới thành công thực sự với siêu phẩm "Master Of Puppets" của Metallica. Đĩa này đã mang lại một đĩa vàng cho họ sau khi bán được trên 500.000 đĩa. Sự kiện này đã phóng nhanh Slayer, Anthax và Megadeth vào quỹ đạo; kể như Thrash Metal đã hoàn toàn làm chủ trên thương trường. Câu trả lời cho Pop Metal đã thỏa đáp bởi sự hình thành một thể loại âm nhạc ác liệt nhất và nhất định không nhượng bộ! Tuy vậy, cũng giống như Pop Metal, có rất nhiều ban nhạc xuất sắc khác không đạt được đúng sự mong muốn của họ, thí dụ như FLOTSAM & JEZSAM, WRANTHCHILD AMERICA, SACRED REICH, ANVIL, CORONER và MEKONG DELTA. Họ đã sáng tác nhiều đĩa thật hay nhưng không bao giờ được ủng hộ đầy đủ. Ban nhạc VOIVOD cũng không được đón nhận hoàn toàn sau khi đã chuyển sang hướng Progressive Thrash Metal. Một thời gian sau đó, ban nhạc ANGEL RAT đã làm nổi bật một dòng âm thanh khác lạ đối nghịch với những ban sáng chói như DIMENSION HARTOSS và NOTHINGFACE, nhưng tiếc thay, họ không xâm nhập được thị trường như ước muốn.

Một khuynh hướng khác bất ngờ xảy ra trong những năm cuối thời kỳ 80 chiếm được ảnh hưởng sâu đậm trong làng nhạc chính là Power Metal. Đó là một thể loại dựa trên "tốc độ nhanh" và "âm thanh mạnh bạo" của Speed Metal kết hợp với những bài nhạc mang chủ đề có tính chất anh hùng ca (epic). Đặc trưng của Classic Metal vì thế như được nhân gấp bội. Power Metal có thể được chia thành 2 loại, căn bản là loại "American" mà điển hình là các ban như METAL CHURCH, SAVATAGE, JAG PANZER và MANOWAR. Một dạng khác bất chấp tỷ lệ phải có của tính chất "epic" nói trên kế thừa bởi Thrash Metal và vẫn nghiêng về phần trình diễn gay gắt, ác nghiệt hơn. Trong khi đó, Melodic Power Metal hay còn gọi là Power Metal của Âu châu là một thể loại tập trung vào sự kết hợp giữa "speed" (tốc độ nhanh) và "classic" (cổ điển), thỉnh thoảng chêm vào một chút cải tiến mà các ban nhạc như RUNNING WILD và đặc biệt là RAGE đã chơi. Tuy thế, Power Metal chưa được phổ biến rộng rãi cho đến khi đĩa "Keeper Of The Seven Keys" của HELLOWEEN (84) được tiêu thụ trên 1 triệu bản. Giọng ca của Michael Kiske làm mọi người sững sờ kinh ngạc! Anh đã đưa Helloween thành một hình ảnh riêng của Power Metal với những giai điệu, hoà âm không bao giờ quên được mà trước đây người ta tưởng chỉ nhận thấy qua Iron Maiden (76). Toàn bộ sự việc này tạo thành một chấn động thình lình cho Power Metal, gây cảm hứng cho những ban nhạc khác đồng loạt xuất hiện như BLIND GUARDIAN (8 và ICED EARTH (91) cũng như đã thúc đẩy các ban nhạc cựu trào Proto-Power Metal như RIOT (73) thích ứng ngay vào phong trào.

0 comments: