6.9.07

Chiến tranh NGA- NHẬT

Những trận kinh điển:
Điện Biên Phủ
Trân Châu Cảng

Chiến tranh Nga - Nhật 1904 - 1905


Đô đốc Nhật Bản Togo trên tàu Misaka.
Đô đốc Nhật Bản Togo trên tàu Mikasa.

Cách đây 100 năm, hải quân Nga Sa hoàng - vốn được coi là hùng mạnh thứ nhì thế giới - chịu thảm bại trên biển Nhật Bản trước sự kinh ngạc của các cường quốc.

Chiến tranh Nga - Nhật nổ ra sau những cuộc xung đột tại Trung Quốc và Triều Tiên. Người Nhật bao vây cảng Arthur do người Nga điều hành ở Trung Quốc, đánh chìm nhiều tàu chiến của nước này.

Năm 1905, khi tham gia vào cuộc đối đầu với Nga Sa hoàng, quốc gia có hải quân lớn thứ hai thế giới, Nhật Bản - một "nhà giàu" mới nổi - bị coi là kẻ thua cuộc gần như chắc chắn. Tuy nhiên, khi đó nước Nhật đang trải qua một cuộc cách mạng công nghiệp đang diễn ra nhanh chóng và lực lượng vũ trang đã thay đổi về chất kể từ khi samurai cuối cùng qua đời.

Trước tình hình ở cảng Arthur, Nga phái đến một hạm đội mạnh, dưới quyền chỉ huy của đô đốc Zinovi Rozhdestvenski, từ châu Âu tới giải quyết số người Nhật khó chịu. Nhưng họ đã phải ngạc nhiên.

Trên thực tế, hải quân Nhật được xây dựng theo hình mẫu hải quân Hoàng gia Anh - vào loại mạnh nhất thế giới cho tới khi Thế chiến II bắt đầu. Ngay cả quân phục cũng được mô phỏng từ mẫu của Anh. Nhiều tàu chiến được đóng tại Anh, trong đó tàu Mikasa được xây dựng tại xưởng đóng Barrow-in-Furness của Vickers & Maxim.

Các tàu chiến Nga, vượt hẳn Nhật Bản về số lượng, tập trung vào chiều ngày 14/5/1905. Con tàu đầu tiên nổ súng là Knyaz Suvorov của đô đốc Rozhestvensky. Ba phút sau, dưới lá cờ của đô đốc Heihachiro Togo, người được đào tạo trong Hải quân Hoàng gia Anh,tàu chiến Mikasa bắn trả. Vì các tàu Nga chở nhiêu liệu, đạn dược không thể đi nhanh hơn, Rozhestvensky quyết định giảm tốc độ. Togo lợi dụng ngay tình thế và vượt người Nga. Cuối cùng, tàu Nhật nhằm vào tàu đô đốc đối phương.

Số tàu chiến Nhật còn lại đuổi theo tàu Nga, đánh đắm hoặc buộc họ phải đầu hàng. Chiến thắng của Togo là trọn vẹn và giúp Nhật kiểm soát vùng biển.

Ngày 27/5/1905, Nhật lại đánh bại Nga trong trận chiến Tsushima, hòn đảo ở giữa Nhật Bản và Triều Tiên.

Bản đồ Chiến tranh Nga - Nhật 1905.

Bản đồ Chiến tranh Nga - Nhật 1905.

Sau thảm bại ở Tsushima, Nga chịu tổn thất nặng nề: 5.045 thủy thủ thiệt mạng, 6.016 người bị giữ làm tù binh. Chiến thắng tiêu hao của Nhật 3 tàu khu trục, 699 sĩ quan và thủy thủ. Chính quyền Nicholas II đồng ý đàm phán hoà bình.

Hiệp ước Portsmouth ký kết tại New Hampshire, Mỹ, ngày 23/8/1905 áp đặt một nền hoà bình làm Nga bẽ mặt. Nước này buộc phải trao một số quyền đáng kể ở Triều Tiên và Trung Quốc cho Nhật Bản. Theo đó, Tokyo được trao bán đảo Kwantung cùng với cảng Arthur và phía nam đảo Sakhalin cho tới vĩ tuyến 50.

Và sau thất bại của Nga, các cường quốc phương tây buộc phải thừa nhận đất nước mặt trời mọc là một sức mạnh vào hàng thế giới.

Chiến tranh Nga-Nhật và Điều ước Ất Tỵ

Vào ngày mùng 6 tháng 2 năm 1904, 60 chiếc tàu chiến Nhật đã rời cảng Sasebo tiến về phía bán đảo Triều Tiên, nay là bán đảo Hàn Quốc. Hai ngày sau, Quân Nhật bất ngờ tấn công những tàu chiến Nga đang đậu tại cảng Lữ Thuận trên bán đảo Liêu Đông. Ngày hôm sau, chiến hạm Nhật lại nã đại bác bắn chìm hai tàu chiến Nga đang thả neo ở cảng Incheon. Ngày mùng 10, Quân Nhật quay lại Seoul và chính thức tuyên chiến.Chiến tranh Nga-Nhật bùng nổ.
Sau khi theo con đường của chủ nghĩa đế quốc, Nhật Bản từng bước tiến hành chuẩn bị để thâu tóm bán đảo Triều Tiên và Mãn Châu, hiện nay là ba tỉnh phía đông bắc Trung Quốc. Một trong những kế hoạch đó là chiến tranh với nhà Thanh, Trung Quốc. Trong cuộc chiến này, Nhật Bản giành thắng lợi, đánh đuổi quân Thanh ra khỏi bán đảo Triều Tiên và chiếm đóng bán đảo Liêu Đông. Tuy nhiên, Nga dựa vào lực lượng Pháp và Đức để cản trở mạnh mẽ Nhật Bản nên Nhật đành phải trả lại bán đảo Liêu Đông cho nhà Thanh.

Thấy tình hình Nhật đang bị yếu thế trước Nga, Hoàng đế Cao Tông và hoàng hậu Minh Thành bắt đầu tăng cường quan hệ mật thiết với Nga. Nhật Bản đã sát hại hoàng hậu Minh Thành nhằm đảo ngược tình hình. Cao Tông sợ bị ám sát đã lánh nạn tại trụ sở Đại sứ quán Nga. Sau khi trở về cung điện, Cao Tông tuyên bố đổi tên nước thành ‘Đại Hàn Đế Quốc’. Trong khi đó, tình hình trở nên có lợi cho Nga và Mỹ. Nhật Bản trở nên yếu thế nhưng vẫn tiếp tục tìm cơ hội khôi phục lại thế lực. Sau năm 1897, Nga đẩy mạnh tốc độ thâm nhập vào bán đảo Triều Tiên và Mãn Châu. Lúc đó Mỹ, Anh và Nhật Bản cũng đã bắt đầu bắt tay nhau để cản trở Nga.

Trước tiên, Mỹ đã thể hiện chính sách mở cửa, biến Philippines thành thuộc địa của mình thông qua chiến tranh với Tây Ban Nha, và bắt đầu tích cực tham gia xâm lược Trung Quốc. Đồng thời, Mỹ có ý định ủng hộ Nhật Bản để ngăn cản chính sách nam tiến của Nga. Thấy vậy, cả Anh, một trong những nước ít hợp tác nhất với Nhật Bản, cũng bắt đầu tiếp cận Nhật Bản. Cuối cùng, Anh và Nhật Bản thiết lập quan hệ đồng minh vào tháng 1 năm 1902.
Anh và Nhật Bản đã ký kết hiệp ước với nội dung chủ yếu như hai nước đảm bảo lợi ích của nhau là quyền lợi của Anh trên đất nước Trung Quốc, quyền lợi của Nhật trên đất nước Chosun. Trong trường hợp, một bên giao chiến với nước thứ ba thì bên còn lại phải giữ thái độ trung lập hoặc một bên giao chiến với hơn hai nước thì một bên kia có nghĩa vụ tham chiến. Đây là đồng minh giúp đỡ lẫn nhau trong việc hỗ trợ, hoàn thiện chính sách chủ nghĩa đế quốc của hai nước và đồng thời cũng là một nhân tố gây ra chiến tranh Nga-Nhật. Kết đồng minh với Anh-Nhật, Nhật Bản đã tạo được một lá chắn chắc chắn về ngoại giao và tài chính.

Nga ở thế bất lợi và đã đề nghị Nhật Bản điều kiện như sau. Nhật Bản không sử dụng lãnh thổ bán đảo Triều Tiên với mục đích chiến lược. Chia mốc vĩ tuyến 39 trên bán đảo Triều Tiên để hạn chế việc hai nước can thiệp vào bán đảo Triều Tiên. Nhật Bản một mặt đàm phán với Nga nhưng mặt khác đã chuẩn bị chiến tranh.

Do Nhật Bản có lợi thế hơn trong cuộc chiến tranh với Nga, vào ngày 23 tháng 2, 15 ngày sau khi chiến tranh bùng nổ, Nhật Bản buộc Đại Hàn Đế Quốc ký bản ghi nhớ Hàn-Nhật là biện pháp giai đoạn 1 để thực dân hóa với nội dung như sau:
Chính phủ Đại Hàn Đế Quốc tạo điều kiện thuận lợi cho Nhật Bản và Nhật Bản có thể sử dụng những địa điểm chiến lược quân sự nếu cần thiết.
Bản ghi nhớ đã tạo ra 1 làn sóng căm phẫn trong triều đình và nhân dân. Nhà của 1 số quan lại đã ký tên vào bản ghi nhớ này thậm chí còn bị người dân đặt bom…v.v. Sau khi nắm cơ hội chiến thắng trong cuộc chiến tranh với Nga, Nhật Bản đã ký kết Hiệp ước Hàn-Nhật lần thứ nhất là biện pháp giai đoạn 2 để lập thuộc địa vào tháng 8 năm 1904. Theo hiệp ước này, Chosun thuê cố vấn tài chính và ngoại giao do Nhật Bản giới thiệu và chủ yếu thảo luận các vấn đề về ngoại giao với họ.

Mặc dù giành phần thắng trong chiến tranh và đã phá hủy toàn bộ cả hạm đội Baltic của Nga, một hạm đội mạnh nhất trong thời kỳ đó, Nhật Bản đã không thể tiếp tục chiến tranh nữa. Nga cũng bị tổn thất nặng nề do trong cuộc chiến này. Nhật Bản đã yêu cầu Mỹ hòa giải. Vào tháng 7 năm 1905, Bộ trưởng Lục quân Mỹ Taft và Bộ trưởng ngoại giao Nhật Bản Gachura đã ký một điều ước bí mật, đó chính là ‘mật ước Gachura-Taft’.

Theo mật ước Gachura-Taft, Mỹ chấp nhận để Nhật Bản chiếm Đại Hàn Đế Quốc và Mỹ kiểm soát Philippines. Đây có thể coi là một điều ước phân chia lãnh thổ trong khu vực Đông Á giữa các nước đế quốc đồng thời là sự xâm lược lẫn nhau giữa các nước trong khu vực Đông Á.

11 ngày sau khi ký kết mật ước Gachura-Taft, đàm phán giảng hòa giữa Nga và Nhật Bản được tổ chức tại Portsmouth, một thành phố Mỹ. Trong khi đàm phán diễn ra, Anh thiết lập quan hệ đồng minh với Nhật lần thứ 2 vào ngày 12 tháng 8. Theo đó, Anh thừa nhận Đại Hàn Đế Quốc là nước được Nhật Bản bảo hộ. Ngày mùng 5 tháng 9 năm 1905, điều ước giảng hòa giữa Nga và Nhật Bản được ký kết. Nội dung chủ yếu của điều ước như sau.

1. Thừa nhận Nhật Bản có quyền lợi đặc biệt về mặt chính trị, quân sự và kinh tế tại Đại Hàn Đế Quốc.
2. Giao quyền cho thuê bán đảo Liêu Đông và quyền quản lý tuyến đường sắt giữa Trường Xuân và Đại Liên cho Nhật Bản.
3. Chuyển nhượng đảo Sakhalin dưới vĩ độ 50 bắc cho Nhật Bản.
4. Cho phép Nhật Bản đánh bắt cá tại khu vực ven biển Diên Hải Châu.

Thông qua đồng minh Anh-Nhật, mật ước Gachura-Taft và điều ước Portsmouth, ba nước Anh, Mỹ và Nga đều đồng ý việc Nhật Bản thực dân hóa Đại Hàn Đế Quốc. 2 tháng sau, vào ngày 17 tháng 11 năm 1905, Đại Hàn Đế Quốc trên thực tế cuối cùng đã rơi vào tay của Nhật.
Việc Nhật Bản có thể biến bán đảo Hàn Quốc thành nước bảo hộ chính là kết quả của chính sách viễn đông của các nước đế quốc. Đặc biệt, Mỹ chấp nhận Nhật Bản có quyền kiểm soát Đại Hàn Đế Quốc. Trong khi cuộc chiến tranh Nga-Nhật đang diễn ra ác liệt, Tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt đã nói như sau.

Tôi tin chắc rằng Đại Hàn Đế Quốc là một đất nước không thể tự trị sau năm 1900 nên nếu Nhật Bản quản lý Đại Hàn Đế Quốc để giữ gìn pháp luật và trật tự và thống trị đất nước một cách có hiệu quả thì điều đó sẽ là một việc tốt cho nhiều người.

Tổng thống Roosevelt đã nhận được giải Nobel hòa bình lần thứ nhất do làm trung gian trong việc ký điều ước giảng hòa Portsmouth. Tuy nhiên, với điều ước này, Đại Hàn Đế Quốc đã trở thành nước thuộc địa của Nhật Bản. Đó không phải là hòa bình mà là thảm họa.

Tuy nhiên, Hoàng đế Cao Tông không nhận ra quan điểm của Mỹ và đã cố gắng cử mật sứ đến Mỹ để tìm kiếm hỗ trợ từ Mỹ. Thật không may, Tổng thống Roosevelt có quan điểm hoàn toàn trái ngược.

Nhật Bản hợp tác với Mỹ và Anh đã chính thức bắt đầu tước đoạt chủ quyền của Đại Hàn Đế Quốc để thực dân hóa bán đảo Triều Tiên. Tháng 11 năm 1905! Ito Hirobumi đến Seoul với tư cách là đặc sứ của hoàng đế Nhật Bản nhằm ký kết Điều ước Ất Tỵ là điều ước giao quyền quản lý ngoại giao và quyền can thiệp vào công việc nội bộ của Đại Hàn Đế Quốc cho Nhật Bản.
Trong thời kỳ đó, Ito Hirobumi là nguyên thủ tướng của Nhật Bản nên việc cử ông đến Đại Hàn Đế Quốc với tư cách là đại sứ thì không phù hợp nhưng điều đó cho thấy Nhật Bản đã dồn hết sức để chiếm Đại Hàn Đế Quốc.
Ito mang thư của hoàng đế Nhật Bản đến Đại Hàn Đế Quốc và đưa ra điều ước đàm phán Hàn-Nhật. Nội dung của điều ước đó là Nhật Bản tước quyền ngoại giao của Đại Hàn Đế Quốc và cho phép người Nhật giám sát nhằm quản lý các hoạt động ngoại giao. Vì điều ước này gồm 5 điều khoản nên được gọi là ‘Ất Tỵ Ngũ Điều ước’. Mặc dù chịu sức ép của Ito nhưng Cao Tông đã từ chối ký tên. Một tài liệu ghi chép một cách chính xác về tình hình khi đó là lá thư viết tay của Cao Tông mà ông Lee Bum-jin, người đã từng là đại sứ Nga trong thời kỳ đó đã gửi tới bộ trưởng ngoại giao Nga ngay sau khi ký kết Hiệp uớc Ất Tỵ. Bức thư có đoạn viết:

Vào ban đêm, đại sứ Hayashi, tướng Hasegawa và hầu tước Ito cùng với quân Nhật xâm nhập vào cung điện và yêu cầu việc ký tên vào điều ước. Tôi và các quan đã chống cự lại sự đe dọa của họ. Lúc đó, họ chiếm phòng giữ quốc ấn và sau khi đóng dấu trên hồ sơ đã chuẩn bị sẵn, họ ép tôi ký tên vào đó. Nhưng tôi đã quyết liệt từ chối.

Như vậy là Cao Tông đã không ký tên vào điều ước. Thêm vào đó, ông đã nhanh chóng thông báo việc ký kết điều ước trên là do sức ép của Nhật Bản cho các Đại sứ của Đại Hàn Đế Quốc tại nước ngoài và chỉ thị họ thông báo với các nguyên thủ tại nước sở tại về vấn đề này và đề nghị giúp Đại Hàn Đế Quốc khôi phục quyền ngoại giao từ phía Nhật Bản. Cao Tông đã yêu cầu điều này 5 lần. Trong phiên họp nội các ngày 17 tháng 11. quân đội Nhật đã bao vây các quan trong phòng họp và Ito hỏi từng người xem họ tán thành hay phản đối. Bộ trưởng phụ trách công việc nhà nước Han Gyu-seol đã phản đối mạnh mẽ điều ước này, ông cho rằng đây là điều ước bán nước và Bộ trưởng phụ trách tài chính Min Yeong-gi cũng bày tỏ thái độ phản đối. Bộ trưởng phụ trách công việc triều chính Lee Jae-geuk thì không nói được vì sợ hãi. Tuy nhiên Bộ trưởng Giáo dục Lee Wan-yong đã tích cực tán thành và các Bộ trưởng khác trong đó có Lee Ji-yong, Park Je-soon, Gwon Jung–hyun và Lee Geun-taek cũng đồng ý. Năm bộ trưởng này được gọi là “Ngũ tặc Ất Tỵ.”

Quyền ngoại giao của Đại Hàn Đế Quốc đã bị tước đoạt như vậy. Và Nhật Bản bắt đầu quản lý mọi việc về chính trị và quân sự của Đại Hàn Đế Quốc. Bị tước đoạt quyền ngoại giao, chủ quyền cơ bản của một nhà nước, có nghĩa là nước đó ở dưới tình trạng nửa thuộc địa. Vương quốc có năm trăm năm lịch sử chưa từng có một cuộc chiến tranh vậy mà đã rơi vào tình trạng nửa thuộc địa. Các nhân viên ngoại giao làm việc ở Đại sứ quán của các cường quốc Anh và Mỹ tại Seoul đã rời Seoul đến Đại sứ quán tại Nhật hoặc trở về nước mình. Trong khi đó, trên toàn quốc đã diễn ra các cuộc phản đối quyết liệt nhằm yêu cầu hủy bỏ Điều ước Ất Tỵ.

Nhiều quan lại chính phủ đã tiến hành phong trào yêu cầu hủy bỏ điều ước và vận động yêu cầu trừng phạt 5 người tán thành với Điều ước Ất Tỵ . Cũng có quan lai triều đình như Min Yeong-hwan đã tự sắt để phản đối điều ước này. Ở các địa phương, quân lính và dân chúng cũng nổi dậy để phản đối .
Khi Điều ước Ất Tỵ được ký kết, tổng biên tập báo Hoàng Thành, Jang Ji-yeon, đã đăng trên báo một bài bình luận với tên là ‘Thị Nhật Dã Phóng Thanh Đại Khốc’ vào ngày 20 tháng 11 cùng năm. Trong bài đó, ông đã nhiệt tình bày tỏ sự phẫn nộ và nỗi oan của muôn dân trước tình hình mất nước. Trích dẫn đoạn cuối cùng của bình luận.
‘Ôi! Oán thán thay! Ôi! thật phẫn uất thay! 20 triệu đồng bào ơi!, hỡi đồng bào đang bị trở thành nô lệ ơi! Chúng ta còn sống hay đã chết? Chẳng nhẽ tinh thần quốc dân trong 4 nghìn năm kể từ khi Vua Tan-gun lập nước đã đột nhiên bị suy tàn chi trong một đêm hay sao ? Bực mình và bực mình! Đồng bào ơi! Đồng bào ơi! Oán thán thay! Hỡi đồng bào ơi!

Cho đến nay, Nhật đã gây chiến với những nước nào?

Cuộc chiến tranh đầu tiên với nước ngoài trong lịch sử của Nhật là cuộc chiến tranh của Hakusukinoe vào năm 663, trong đó Nhật đánh nhau với liên minh của Trung Quốc và Triều Tiên. Tiếp đến là 2 trận chiến với quân Mông Cổ vào năm 1274 và 1281. Vào năm 1592 và 1596 thì Toyotomi Hideyoshi đã cố gắng chinh phục bán đảo Triều Tiên, tuy nhiên vào năm 1598 thì quân của ông ta đã phải rút lui vì cái chết của tướng quân. Trong suốt thời kỳ Edo (Giang Tô), chính quyền Nhật Bản thực hiện chính sách bế quan toả cảng và cắt đứt mọi mối quan hệ với nước ngoài. Tuy nhiên sau khi chế độ Thiên hoàng được khôi phục lại thì tham vọng xâm lược bán đảo Triều Tiên của người Nhật lại bắt đầu nhen lên, tạo nên mối đe doạ lớn đối với Trung Quốc. Vào năm 1894, triều Minh (Trung Quốc) gửi quân tới bán đảo và bắt đầu cuộc chiến tranh Trung-Nhật. Chiến thắng của quân Nhật vào năm tiếp đó đã đưa đến kết quả là sự độc lập của Triều Tiên và sự nhượng lại bán đảo Liêu đông, Đài Loan và đảo P'eng-hu cho Nhật. Tuy nhiên, Nga, Đức và Pháp đã phản đối kịch liệt việc này và người Nga đã bắt đầu tiến hành chiến lược mở rộng xuống phía nam bằng việc chiếm đóng Mãn Châu. Chiến tranh Nga- Nhật xảy ra vào năm 1904. Và người Nhật lại tiếp tục chiến thắng vào năm tiếp sau đó và tăng cường sức mạnh của mình ở bán đảo Triều Tiên và thu thêm được cả phía nam của Sakhalin. Trong cố gắng mở rộng ảnh hưởng ở Trung Quốc, Nhật bị suy yếu khi dốc toàn lực vào cuộc chiến tranh với Trung Quốc và tiến tới chiến tranh Thái Bình Dương vào năm 1941 chống lại quân đồng minh bao gồm Mỹ, Anh và Hà Lan. Nhật Bản thất trận vào tháng 8 năm 1945. Ta có thể nhận thấy con số các cuộc chiến tranh tăng lên nhanh chóng chỉ trong vòng 100 năm kể từ khi Nhật phát triển thành một quốc gia hiện đại.

Tự vệ đoàn có phải là quân đội hay không?

Không. Hiến pháp của Nhật tuyên bố vĩnh viễn không chấp nhận chiến tranh trong điều 9 chương 2. Trong thời kỳ hậu chiến thì điều này có thể dịch là Nhật Bản sẽ không bao giờ phát động chiến tranh hay dùng vũ lực quân sự như là phương sách giải quyết xung đột quốc tế. Người ta lí luận rằng những điều ghi trong hiến pháp chỉ là cấm phát động chiến tranh hay dùng vũ lực đe doạ các nước khác chứ không cấm quyền tự vệ khi có ngoại xâm. Với lí do đó, Nhật Bản quyết định thành lập tự vệ đoàn. Năm 1950, tự vệ đoàn ra đời với cái tên "Đội cảnh sát dự bị". Năm 1952 đổi tên thành "Đội Bảo An". Năm 1954, bộ luật về tự vệ đoàn ra đời. Mặc dù không phải là quân đội nhưng tự vệ đoàn Nhật Bản có đủ hải - lục - không quân, có máy bay chiến đấu, có xe tăng, có tên lửa đất đối không.

Nếu so với quân đội các nước khác, tự vệ đoàn mạnh như thế nào?

Theo như số liệu năm 1993 thì ngân sách cho tự vệ đoàn của Nhật đứng vào hàng thứ 3 trên thế giới sau Mỹ và Nga, trên cả Pháp, Đức, Anh và Trung Quốc. Tuy nhiên, nếu đem so sánh với tổng sản lượng quốc dân cực cao của Nhật thì ngân sách đó quá thấp, chỉ chiếm có 1.6% GDP. Trong khi đó con số này là 4.7% cho Mỹ, 4.2% cho Hàn Quốc, 25.2% cho Bắc Triều Tiên.
một lính Nga trong trang phục mùa đông: quấn một chiếc khăn bashlik trùm từ chiếc mũ lông shapka (có gắn con đại bàng hai đầu) xuống tận cổ. Chiếc ống tay áo choàng vải shinel khá dài, có thể lộn ra để che giá cho hai tay và dải băng đạn quấn quanh mình. Người lính này thuộc đơn vị chưa rõ phiên hiệu, và chỉ đeo có một thắt lưng. Bình đựng nước và chiếc túi xách anh ta đeo bên hông.

Tướng Andrei Kuropatkin, tư lệnh Tập đoàn quân Mãn Châu số 1 của Nga, về sau là chỉ huy toàn bộ lực lượng Nga đánh Nhật cho tới khi bị tướng Linevich thay thế tháng Ba 1905, do những sai lầm tại Mukden. Chiếc băng chéo ngực cho biết ông là một cận thần của Sa hoàng.

một đoàn lính Nga hành quân ngang cách đồng đã gặt: cho thấy những đau khổ mà người Trung Quốc phải chịu trong cuộc chiến. Cả hai phe đều phớt lờ sự cướp bóc những vùng chiến sự, mặc dù người Nhật có mềm mỏng hơn, do thế nhận được nhiều thông tin tình báo từ dân địa phương.

Ba người lính Nga áp tải một tù binh Nhật (người Nhật ăn mặc nhếch nhác hơn). Những lính Nga mặc áo choàng kiểu M1881với mũ lông cừu kiểu Siberia "Manchzhurka" khiến bộ dạng của họ thật man dã. Người tù binh Nhật mặc thứ có lẽ là chiếc áo choàng chiến lợi phẩm của Nga đã được cắt xẻ lại, phủ bên ngoài áo quân phục xanh sậm M1886, và hình như đội chiếc mũ kaki kiểu 1904.

Tướng Maresuke Nogi, người chiến thắng trong cuộc tấn công lần đầu vào Port Arthur trong chiến tranh Trung - Nhật 1894-1895, được giao nhiệm vụ chiếm thành phố này lại một lần nữa khi chì huy Tập đoàn quân số 3 của Nhật năm 1904. Ông đã đánh giá thấp khả năng của tuyến phòng thủ đồn luỹ mới của Nga, và đưa binh lính của mình xung phong trực diện nhiều lần dẫn đến thương vong nặng nề. Về sau ông làm theo lời khuyên của trung tướng Gentaro Kodama, tham mưu trưởng của Nguyên soái Oyama, kiến trúc sư của chiến thắng tại Mãn Châu. Trong ảnh Nogi mặc bộ quân phục sĩ quan M1900 "Attila" với chiếc quần mùa hè và ủng da cổ cao. Ông đeo thanh gươm duyệt binh kiểu M1875.

Một tổ điẹn thoại dã chiến của Nhật, mặc quân phục kaki mùa hè, ngay sát chiến tuyến. Ở đây có nhiều chi tiết thú vị: người ở bên trái đeo một dải băng dài có sọc đen giành cho chỉ huy đại đội gắn trên phía trước mũ.

Tổ súng máy Nhật, dùng khẩu Hotchkiss M1897 của Pháp sx. Bên cạnh một vài khẩu Maxim chiến lợi phẩm của Nga, đây là loại súng máy duy nhất của bên Nhật.

Bộ binh Nga. Phong cảnh điển hình vùng Mãn Châu.

Trong chiến dịch Mãn Châu, sĩ quan thông tin Nga dùng khinh khí cầu để quan sát. Chiếc áo tunic xanh nhạt M1890 dùng riêng cho các đơn vị Khinh Khí cầu.

Đoàn bộ binh Nga

Tổ pháo thủ 7,62 cm kiêủ bắn nhanh Putilov M1902. Đây là kiểu pháo dã chiến phổ biến của Quân đội Nga 1904-05.

Một khẩu bức kích pháo 6 inch của Nga, gồm 3 sĩ quan và 12 lính pháo thủ. Có hai sĩ quan mặc áo sáng màu, người sĩ quan đứng giữa mặc chiếc tulup lông cừu có đính thêm cầu vai.

Pháo thủ của Binh đoàn pháo binh 23 chụp ảnh kỷ niệm tại ga Gatchina.

Chụp tại Mukden tháng Giêng 1905.

Sĩ quan Nga

Sĩ quan kỵ binh Kornet Zvaginzov, nhà sử học quân sự trước trước chiến tranh.

Ba lính Côdắc Kavkaz đứng cạnh một chú bé cần vụ người Trung Quốc. Bức ảnh cho thấy sự đa dạng về kiểu mũ của lính Côdắc và lưu ý chiếc áo choàng lông cherkeska.

1-Đại uý, sĩ quan tham mưu. 2-Lính trung đoàn Long kỵ binh thủy quân lục chiến. 3-Tướng, bá tước Meyendorf.

Quân phục mùa hè Nga: 1-Trung uý, trung đoàn bộ binh Vyborg số 85. 2-Cai đội cầm cờ, Trung đoàn xạ thủ Siberi số 4. 3-Binh nhì, trung đoàn xạ thủ Siberi số 11. 4-Đại uý, trung đoàn Long kỵ binh Chernigov.

Lính Côdắc: 1-Binh nhì, Sư đoàn kỵ binh Côdắc. 2-Thiếu uý, trung đoàn Siberi số 5. 3-Trung uý Bá tước von Eske, Côdắc Ngoại Baikal. 4-






No comments: